Từ ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, đổi mới tổ chức sản xuất đến phát triển sản phẩm OCOP và kiểm soát chất lượng, Tuyên Quang đang từng bước thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm 2026 tạo nền tảng để khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế địa phương, hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững.
Đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, đổi mới tổ chức sản xuất
Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tỉnh Tuyên Quang tiếp tục triển khai các chương trình khuyến nông, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, chuyển giao tiến bộ đến cơ sở. Trọng tâm là phát triển giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng, giá trị kinh tế cao; xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức 5 lớp tập huấn về quy trình kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản, thu hút hơn 300 học viên. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn sản xuất được đẩy mạnh với 20 chuyên mục khuyến nông trên Báo và Phát thanh, truyền hình tỉnh cùng 122 tin, bài đăng tải trên các trang thông tin điện tử của ngành và Trung tâm Khuyến nông tỉnh.
Nhiều mô hình sản xuất tiếp tục được triển khai, như thử nghiệm các giống lúa lai TBH456, lúa thuần TBR16, VNR86, TBR19; trồng quế hữu cơ trên diện tích 20 ha, cây dược liệu theo tiêu chuẩn GACP trên diện tích 5 ha, thâm canh bưởi theo VietGAP trên diện tích 5 ha và chăn nuôi gà H’Mông với quy mô 6.000 con. Tỉnh đồng thời duy trì các vườn bảo tồn, vườn cây đầu dòng; ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào để bảo tồn một số cây dược liệu như Hà thủ ô, Kim ngân, Ba kích; nuôi lưu giữ, bảo tồn 7 loài cá bản địa và ứng dụng kỹ thuật sinh sản nhân tạo các loài cá có giá trị kinh tế.

Đại diện Hợp tác xã Sản xuất chế biến thực phẩm an toàn Sáng Nhung (tỉnh Tuyên Quang) nhận giải thưởng tại Cuộc thi “Hợp tác xã đổi mới sáng tạo” năm 2026.
Cùng với ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới tổ chức sản xuất được xác định là khâu quan trọng để nâng cao giá trị nông sản. Toàn tỉnh hiện có 850 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp với 9.290 thành viên và 3.369 cán bộ quản lý. Trong 9 tháng, có 22 HTX thành lập mới, 7 HTX giải thể. Việc nâng cao năng lực quản trị, phát huy vai trò HTX trong tập hợp các hộ sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu và kết nối thị trường tiếp tục là yêu cầu đặt ra.
Thực hiện Nghị quyết số 08/2025/NQ-HĐND ngày 24/10/2025 của HĐND tỉnh, các cơ quan chuyên môn hướng dẫn xã, phường triển khai các dự án liên kết và hỗ trợ phát triển sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh có 203 dự án được phê duyệt, gồm 8 dự án liên kết chuỗi giá trị và 195 dự án cộng đồng, với 4.262 hộ tham gia, tổng kinh phí hỗ trợ được phê duyệt 131,912 tỷ đồng. Các chương trình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ tiếp tục được mở rộng đối với các sản phẩm như lạc, gấc, dưa chuột, ớt, ngô sinh khối, dâu tằm.
Việc gắn sản xuất với liên kết tiêu thụ góp phần định hướng người dân tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng và ổn định đầu ra. Qua đó, từng bước khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phát huy vai trò của HTX, doanh nghiệp trong kết nối sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Phát triển OCOP gắn với quảng bá, mở rộng thị trường
Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) tiếp tục góp phần khai thác lợi thế địa phương, chuẩn hóa chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm. Tỉnh đã thành lập Hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp tỉnh, Tổ tư vấn và ban hành quy chế hoạt động; đồng thời tham mưu xây dựng Kế hoạch phát triển sản phẩm OCOP giai đoạn 2026–2030. Đến nay, toàn tỉnh có 357 sản phẩm được chứng nhận OCOP từ 3 sao trở lên, gồm 338 sản phẩm 3 sao, 17 sản phẩm 4 sao và 2 sản phẩm 5 sao cấp quốc gia. Các sản phẩm thuộc 232 chủ thể, trong đó có 140 HTX, 9 tổ hợp tác, 21 doanh nghiệp và 62 hộ sản xuất, kinh doanh. Nhóm thực phẩm chiếm chủ yếu với 308 sản phẩm, tiếp đến là 36 sản phẩm đồ uống; 5 sản phẩm thủ công mỹ nghệ; 2 sản phẩm sinh vật cảnh và 6 sản phẩm dịch vụ du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, điểm du lịch. Hiện có 94/124 xã, phường có sản phẩm OCOP.

Sản phẩm Bạch trà Shan Tuyết cổ thụ – một trong những sản phẩm OCOP đặc trưng chất lượng cao của tỉnh, không chỉ khẳng định thương hiệu trên thị trường mà còn tôn vinh giá trị văn hóa trà Việt.
Kết quả trên cho thấy chương trình OCOP đã thu hút sự tham gia của nhiều loại hình chủ thể, góp phần hình thành danh mục sản phẩm phong phú gắn với đặc trưng địa phương. Tuy nhiên, để nâng cao sức cạnh tranh, các chủ thể cần chú trọng hơn nữa đến chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu, cải tiến mẫu mã và mở rộng kênh phân phối. Hoạt động quảng bá cần gắn với kết nối doanh nghiệp, hệ thống phân phối và ứng dụng công nghệ số, qua đó đưa sản phẩm địa phương tiếp cận nhiều hơn với người tiêu dùng. Phát triển OCOP vì vậy không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng sản phẩm được công nhận mà cần hướng đến hiệu quả kinh tế, khả năng tiêu thụ và thu nhập thực tế của người sản xuất. Việc kết hợp sản phẩm đặc trưng với tổ chức sản xuất theo chuỗi, kiểm soát chất lượng và xúc tiến thương mại sẽ tạo điều kiện để nông sản Tuyên Quang nâng cao giá trị, mở rộng thị trường và phát triển bền vững.
Kiểm soát chất lượng, tạo nền tảng phát triển bền vững
Cùng với phát triển sản xuất và mở rộng thị trường, công tác quản lý chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản được tăng cường. Trong 9 tháng đầu năm, Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn các xã, phường triển khai các kế hoạch của UBND tỉnh về bảo đảm an toàn thực phẩm; duy trì kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh và xử lý vi phạm theo quy định.
Đối với hàng nông sản nhập khẩu, cơ quan chuyên môn đã phê duyệt thông báo kiểm tra an toàn thực phẩm đối với 181/181 hồ sơ, tương ứng khối lượng hàng nông sản 4.202,751 tấn. Công tác kiểm tra chuyên ngành được thực hiện tại 6 cơ sở, gồm 5 cơ sở sản xuất, kinh doanh chè và 1 cơ sở sản xuất, sơ chế mật ong. Ngành cũng phối hợp với lực lượng công an lấy 15 mẫu giò, chả tại một cơ sở kinh doanh để kiểm tra nhanh, phục vụ công tác giám sát an toàn thực phẩm; đồng thời thẩm định, cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho 3 cơ sở theo quy định.
Kiểm soát chất lượng cần được thực hiện xuyên suốt từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến lưu thông trên thị trường. Đây không chỉ là yêu cầu bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn góp phần củng cố uy tín, nâng cao sức cạnh tranh của nông sản và sản phẩm OCOP.
Thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục gắn nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật với nhu cầu thực tế; nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX, mở rộng các mô hình liên kết phù hợp; hỗ trợ chủ thể OCOP hoàn thiện chất lượng, thương hiệu và thị trường tiêu thụ, đồng thời tăng cường quản lý an toàn thực phẩm. Trọng tâm là chuyển từ tư duy sản xuất những gì sẵn có sang sản xuất theo nhu cầu thị trường, lấy chất lượng, hiệu quả kinh tế và lợi ích của người sản xuất làm thước đo. Đây là hướng đi quan trọng để phát huy tiềm năng, lợi thế địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân và đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Hải Đăng