HUỲNH THÚC KHÁNG – MỘT ĐỜI VÌ NƯỚC, VÌ DÂN

01/10/2026
46

Chọn giọng đọc trước, sau đó bấm Đọc bài. Đọc qua Viettel AI TTS.

Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (01/10/1876 - 01/10/2026) là dịp để cùng nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của một chí sĩ yêu nước tiêu biểu, nhà duy tân, nhà báo, nhà hoạt động chính trị giàu bản lĩnh của dân tộc. Từ một nhà nho khoa bảng, cụ đã lựa chọn con đường dấn thân vì nước, vì dân; trải qua 13 năm tù đày, hoạt động nghị trường, làm báo và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng. Ở mỗi chặng đường, cụ Huỳnh Thúc Kháng đều thể hiện rõ khí tiết, bản lĩnh và trách nhiệm trước vận mệnh đất nước, để lại một tấm gương sáng về lòng yêu nước, tinh thần đổi mới và sự tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Ban Biên tập Cổng Thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX, cụ Huỳnh Thúc Kháng là một chí sĩ yêu nước tiêu biểu, một nhà duy tân, nhà báo và nhà hoạt động chính trị có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân quyền, dân sinh. Từ một nhà nho khoa bảng, cụ đã vượt khỏi khuôn khổ của con đường khoa cử để dấn thân vào sự nghiệp cứu nước; trải qua 13 năm tù đày ở Côn Đảo, hoạt động nghị trường, làm báo và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trực tiếp tham gia xây dựng chính quyền cách mạng.

 Đi qua nhiều bước ngoặt của lịch sử, ở bất cứ cương vị nào, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ một lựa chọn nhất quán: đem trí tuệ, bản lĩnh và uy tín của mình phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Chính nhân cách ấy đã làm nên tầm vóc và sức sống lâu bền của tên tuổi Huỳnh Thúc Kháng trong lịch sử dân tộc.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng – chiến sĩ yêu nước, nhà duy tân, nhà báo và nhà hoạt động chính trị tiêu biểu của dân tộc.

Từ nhà nho khoa bảng đến chí sĩ Duy Tân

 Huỳnh Thúc Kháng, tên lúc nhỏ là Huỳnh Văn Thước, sau đổi thành Huỳnh Hanh, hiệu Minh Viên, sinh ngày 1/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc thành phố Đà Nẵng. Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho, từ nhỏ cụ đã nổi tiếng thông minh, ham học, có chí hướng. Năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương; năm 1904 đỗ Tiến sĩ.

 Với một nhà nho đương thời, đỗ Tiến sĩ mở ra con đường danh vọng, quan trường. Nhưng Huỳnh Thúc Kháng đã không lựa chọn con đường ấy. Cụ không ra làm quan mà tìm đến con đường hoạt động yêu nước, canh tân đất nước. Đây là bước ngoặt quan trọng, đưa một nhà nho khoa bảng trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX.

 Năm 1905, cụ cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào phía Nam khảo sát tình hình, tìm hiểu dân tình, sĩ khí, truyền bá tư tưởng canh tân và vận động mở mang dân trí. Trở về Quảng Nam năm 1906, cụ cùng các sĩ phu yêu nước tham gia khởi xướng, tổ chức và thúc đẩy phong trào Duy Tân.

 Điểm nổi bật trong tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng là nhận thức rõ muốn thay đổi vận mệnh đất nước phải bắt đầu từ con người. Cụ đề cao việc khai dân trí, chấn dân khí, phát triển dân sinh; vận động mở trường tân học, khuyến khích học chữ Quốc ngữ, đề cao thực học, cổ vũ sản xuất, phát triển thương nghiệp và truyền bá những tư tưởng tiến bộ về dân quyền.

 Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, đó là một tư duy có ý nghĩa mở đường. Yêu nước không chỉ là chống ngoại xâm mà còn phải làm cho dân mạnh, dân có tri thức, có ý thức về quyền và trách nhiệm của mình. Canh tân đất nước vì thế phải gắn với giáo dục, kinh tế, đời sống và sự thức tỉnh của xã hội.

 Nhưng con đường hoạt động yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng nhanh chóng phải đối mặt với sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Năm 1908, cụ bị bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Mười ba năm trong lao tù, từ năm 1908 đến năm 1921, là thử thách đặc biệt khắc nghiệt. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, khí tiết và bản lĩnh của người chí sĩ càng được thể hiện rõ. Cụ tiếp tục tự học, nghiên cứu, sáng tác, trao đổi tư tưởng với những người yêu nước và giữ vững niềm tin vào tương lai dân tộc. Những năm tháng tù đày càng tôi luyện ý chí và bản lĩnh của cụ. Đó cũng là một trong những dấu ấn sâu đậm nhất trong cuộc đời người chí sĩ: trước cường quyền không khuất phục, trước gian khổ không nản chí, trước thử thách càng giữ vững khí tiết.

Nghị trường, báo chí – những mặt trận vì dân quyền, dân sinh

 Trở về sau 13 năm tù đày, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục hoạt động yêu nước trong điều kiện lịch sử mới. Năm 1926, cụ được bầu làm dân biểu Trung Kỳ, giữ cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trên nghị trường, cụ thẳng thắn lên tiếng về những vấn đề liên quan đến đời sống Nhân dân, đấu tranh chống những chính sách cai trị bất công, đòi hỏi mở rộng quyền dân chủ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.

 Nhưng khi nhận thấy những giới hạn của nghị trường dưới chế độ thuộc địa, cụ đã từ chức. Quyết định ấy cho thấy sự nhất quán trong lựa chọn của Huỳnh Thúc Kháng: không coi chức vị là mục đích, không đánh đổi nguyên tắc và danh dự lấy quyền lợi cá nhân.

 Nếu nghị trường là một mặt trận thì báo chí là mặt trận mà cụ Huỳnh Thúc Kháng dành nhiều tâm huyết. Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên tại Huế, do cụ làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Trong 16 năm hoạt động, đến khi bị đình bản năm 1943, báo đã xuất bản 1.766 số. Trong điều kiện báo chí bị kiểm duyệt gắt gao, Tiếng Dân vẫn kiên trì phản ánh đời sống xã hội, lên tiếng trước những bất công, bảo vệ quyền lợi của người dân, cổ vũ dân quyền, dân sinh và tinh thần dân tộc. Với cụ Huỳnh Thúc Kháng, làm báo không phải để tìm kiếm danh tiếng cá nhân mà trước hết là để phụng sự xã hội, nâng cao dân trí và góp phần thức tỉnh ý thức công dân. Qua Tiếng Dân, cụ đề cập nhiều vấn đề thiết thân của xã hội: giáo dục, kinh tế, đời sống Nhân dân, quyền dân chủ, lao động, tù chính trị... Báo cũng thể hiện sự quan tâm của cụ đối với những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia. Từ nghị trường đến báo chí, Huỳnh Thúc Kháng luôn giữ một điểm tựa: đứng về phía quyền lợi của Nhân dân và lợi ích dân tộc. Đó cũng là cơ sở tạo nên uy tín của cụ trong đời sống chính trị, xã hội và văn hóa đương thời.

Từ chí sĩ yêu nước đến người gánh vác việc nước

 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một thời kỳ mới của dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, vừa phải bảo vệ nền độc lập non trẻ, vừa xây dựng chính quyền và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

 Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng tài năng, đức độ và uy tín của Huỳnh Thúc Kháng, mời cụ tham gia Chính phủ. Cụ giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tham gia trực tiếp vào công việc xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.

 Việc một chí sĩ yêu nước lão thành, không phải đảng viên cộng sản, được giao trọng trách trong Chính phủ thể hiện chủ trương tập hợp rộng rãi những người yêu nước, trọng dụng nhân tài, đặt lợi ích dân tộc lên trên những khác biệt.

 Đầu năm 1946, cụ được bầu làm Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, góp phần tập hợp các tầng lớp, lực lượng yêu nước trong một mặt trận đoàn kết rộng rãi. Với uy tín và ảnh hưởng của mình, cụ trở thành một trong những nhân vật tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết dân tộc trong những ngày đầu của Nhà nước cách mạng.

 Đặc biệt, tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao thay mặt Chủ tịch điều hành công việc Chính phủ.

Trong thời gian ấy, cụ chủ trì các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, giải quyết nhiều công việc quan trọng của đất nước, trong đó có những vấn đề về đối nội, đối ngoại và đấu tranh chống các hoạt động phá hoại chính quyền cách mạng. Trước lúc lên đường sang Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cụ: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Câu nói ngắn gọn ấy cũng trở thành một dấu ấn đặc biệt khi nhắc đến Huỳnh Thúc Kháng trong những ngày tháng đầy biến động của đất nước.

 Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bước vào giai đoạn quyết liệt, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao nhiệm vụ vào miền Trung tuyên truyền đường lối kháng chiến, giải thích chủ trương của Chính phủ, động viên đồng bào và chiến sĩ đoàn kết, tham gia xây dựng lực lượng kháng chiến. Đó cũng là chuyến đi cuối cùng của người chí sĩ. Ngày 21/4/1947, cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời tại Quảng Ngãi, khi đang thực hiện nhiệm vụ được giao. Cụ được an táng tại núi Thiên Ấn theo nguyện vọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư báo tin cụ qua đời, bày tỏ sự tiếc thương và khẳng định những phẩm chất cao quý của một người suốt đời phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập.

 Một cuộc đời 70 năm khép lại, nhưng con đường mà Huỳnh Thúc Kháng đã đi và những giá trị mà cụ để lại vẫn tiếp tục được nhắc nhớ. Những đóng góp của cụ đối với dân tộc trải rộng trên nhiều lĩnh vực: thúc đẩy phong trào Duy Tân, nâng cao dân trí, cổ vũ dân quyền, chăm lo dân sinh; đấu tranh trên nghị trường; xây dựng nền báo chí tiến bộ; tham gia xây dựng chính quyền cách mạng; góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo vệ nền độc lập của đất nước...

 Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng không chỉ là dịp tưởng nhớ một danh nhân lịch sử. Qua cuộc đời và sự nghiệp của cụ, các thế hệ hôm nay có thêm một cách nhìn sâu sắc về trách nhiệm của người trí thức, trách nhiệm của người cán bộ trước Tổ quốc và Nhân dân. Đó là bài học về bản lĩnh trước thử thách; về tinh thần tự học, tư duy độc lập; về dám đổi mới khi thời cuộc đòi hỏi; về biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; về giữ gìn khí tiết và uy tín; về tinh thần đoàn kết, tập hợp sức mạnh của các tầng lớp Nhân dân vì mục tiêu chung của đất nước.

Đối với thế hệ trẻ, cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng càng có ý nghĩa. Từ một người học hành đỗ đạt, cụ không chọn cuộc sống an nhàn mà dấn thân vào những vấn đề lớn của đất nước. Cụ học để hiểu thời cuộc, tiếp nhận tri thức mới để tìm con đường phát triển, và biến tri thức thành hành động phục vụ cộng đồng, xã hội.

 Tiếp tục nghiên cứu, tuyên truyền và giáo dục về cuộc đời, sự nghiệp, nhân cách cụ Huỳnh Thúc Kháng trong các tầng lớp Nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Đối với cán bộ, đảng viên, học tập cụ Huỳnh Thúc Kháng trước hết là tu dưỡng đạo đức, giữ vững bản lĩnh, sống liêm chính, tận tụy, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; kiên quyết đấu tranh với tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện xa rời quần chúng.

Đối với mỗi người dân, đó là ý thức sống có trách nhiệm, đoàn kết, tự lực, học tập không ngừng và đóng góp bằng khả năng của mình cho cộng đồng và đất nước. Học tập cụ Huỳnh Thúc Kháng không phải chỉ để nhắc lại một tấm gương của lịch sử, mà quan trọng hơn là biến những giá trị Cụ để lại thành hành động. Đó là yêu nước bằng trách nhiệm, thương dân bằng việc làm, giữ vững bản lĩnh trước khó khăn, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặt lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân.

 Phát huy những giá trị ấy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển; đẩy mạnh thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và các Nghị quyết chiến lược của Đảng; phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

                                                                                                       BBT

 


Đang tải dữ liệu…

Dự báo theo tọa độ TP. Tuyên Quang — nguồn Open-Meteo

Đang online
157
Hôm nay
4.909
Hôm qua
21.897
Tuần này
91.870
Tháng này
26.806
Tổng tất cả
9.315.644
⇧
Hỏi đáp về Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang, Lần thứ I, Nhiệm kỳ 2025 - 2030
⇧