Nhận lời mời của Toàn quyền Canada, Bà Louise Arbour, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Canada từ ngày 24-25/9/2026.
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Canada Mark Carney chụp ảnh chung. (Ảnh: TTXVN) |
Đây là lần đầu tiên một Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Canada kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, đánh dấu cột mốc lịch sử trong quan hệ hai nước.
Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Thủ tướng Canada Mark Carney tại Ottawa. Chuyến thăm thể hiện cam kết mạnh mẽ của Lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn, dựa trên nền tảng hợp tác kinh tế mạnh mẽ hơn, tăng trưởng cùng có lợi và phát triển bền vững.
Việt Nam và Canada là các đối tác tin cậy của nhau, cùng cam kết xây dựng mối quan hệ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau đối với thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đối thoại cởi mở và chân thành; lợi ích cân bằng và đan xen, tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, vì mục tiêu hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Là những quốc gia hội nhập sâu rộng vào hệ thống thương mại toàn cầu, Việt Nam và Canada nhận thức được rằng để phát triển phồn vinh, các quan hệ kinh tế quốc tế cần dựa trên luật lệ.
Lãnh đạo hai nước đã nâng cấp quan hệ Việt Nam-Canada lên Đối tác Chiến lược dựa trên 8 trụ cột: (1) Hợp tác song phương, khu vực và đa phương; (2) Hợp tác thương mại, đầu tư, tài chính và kinh tế; (3) Hợp tác về giao thông vận tải, quản lý chuỗi cung ứng và hạ tầng; (4) Hợp tác về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tiên tiến và đổi mới sáng tạo; (5) Hợp tác về an ninh năng lượng, môi trường và tăng trưởng bền vững; (6) Hợp tác về an ninh lương thực và nông nghiệp-thực phẩm; (7) Hợp tác về quốc phòng, an ninh, hàng hải, thực thi pháp luật và tư pháp; (8) Hợp tác về giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân. Tổng thể các trụ cột này tạo nền tảng giúp Việt Nam và Canada cùng giải quyết các thách thức chung, nắm bắt các cơ hội mới nổi và đóng góp vào một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương an ninh, phồn vinh và năng động hơn.
Hợp tác Song phương, Khu vực và Đa phương
1. Lãnh đạo hai nước ghi nhận tầm quan trọng của việc duy trì tiếp xúc nhằm củng cố nền tảng thể chế của quan hệ song phương, tạo thuận lợi cho hợp tác trong các ưu tiên chung và hỗ trợ quản lý hiệu quả các thách thức, cơ hội mới nổi. Lãnh đạo hai nước tái khẳng định cam kết tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau thông qua duy trì trao đổi đoàn cấp cao thường xuyên, phát huy các cơ chế song phương hiện có như các cơ chế Tham vấn Song phương Việt Nam-Canada, Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế, Đối thoại Chính sách Quốc phòng, Đối thoại Biển, cũng như tăng cường sự gắn kết giữa các tổ chức hữu quan, phù hợp với luật pháp và quy định của cả hai nước. Lãnh đạo hai nước hoan nghênh cơ hội đối thoại thường xuyên giữa Bộ trưởng Ngoại giao hai nước cũng như việc thiết lập Đối thoại Nông nghiệp Việt Nam-Canada và thảo luận hướng tới thiết lập Đối thoại An ninh và Thực thi Pháp luật song phương. Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trân trọng mời Thủ tướng Mark Carney thăm Việt Nam.
2. Hai bên hoan nghênh các cam kết tăng cường hợp tác nghị viện thông qua trao đổi giữa các ủy ban, nhóm nghị sĩ hữu nghị, nữ nghị sĩ và nghị sĩ trẻ của hai nước, góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và gắn kết nhân dân.
3. Lãnh đạo hai nước chia sẻ cam kết đề cao luật pháp quốc tế và tăng cường hợp tác khu vực và đa phương tại các diễn đàn như Liên hợp quốc, APEC, các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, Cộng đồng Pháp ngữ (La Francophonie), cũng như trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Tiến bộ và Toàn diện xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hai bên tái khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN, trao đổi về việc phối hợp giữa Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Canada với Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và cam kết làm sâu sắc hơn hợp tác trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược ASEAN-Canada, bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực cùng quan tâm như năng lượng, an ninh lương thực, trí tuệ nhân tạo và kinh tế số. Canada hoan nghênh vai trò dẫn dắt của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch Hội đồng CPTPP năm 2026, cũng như việc Việt Nam tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Đối thoại Thương mại và Đầu tư CPTPP-EU và chuẩn bị đăng cai APEC 2027, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam đảm nhiệm tốt các vai trò này cũng như vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2030. Việt Nam hoan nghênh việc Canada đề xuất đăng cai Hội nghị Cấp cao Cộng đồng Pháp ngữ năm 2028 và APEC năm 2029. Hai bên cam kết tiếp tục phối hợp ứng phó với các thách thức khu vực và toàn cầu, thúc đẩy các lợi ích chung nhằm tăng cường hòa bình, ổn định và tuân thủ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Viên về Quan hệ Lãnh sự và Hiến chương Liên hợp quốc.
Hợp tác Thương mại, Đầu tư, Tài chính và Kinh tế
1. Thương mại là một trụ cột trong quan hệ Việt Nam-Canada, được thúc đẩy mạnh mẽ nhờ Hiệp định CPTPP. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN. Thương mại hai bên tăng trưởng nhanh chóng, thể hiện sức mạnh của quan hệ đối tác kinh tế giữa hai nước và dư địa to lớn để tiếp tục mở rộng thương mại, đầu tư, quan hệ đối tác chiến lược giữa các doanh nghiệp và hợp tác phát triển, qua đó góp phần thúc đẩy các ưu tiên chung của hai nước.
2. Các nhà Lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ hoàn tất đàm phán và thực thi Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Canada sớm nhất có thể, làm cơ sở quan trọng thúc đẩy hợp tác kinh tế sâu rộng hơn giữa ASEAN và Canada. Hai bên cũng nhất trí phát huy tối đa hiệu quả của Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế Việt Nam-Canada và tái khẳng định ủng hộ việc triển khai, hiện đại hóa và mở rộng CPTPP. Ngoài ra, Việt Nam và Canada đang hỗ trợ kết nối khu vực và thương mại dựa trên luật lệ thông qua các đối tác có chung lợi ích và Đối thoại Thương mại và Đầu tư CPTPP với Liên minh châu Âu (EU) và ASEAN.
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Chủ tịch Thượng viện Raymonde Gagne. (Ảnh: TTXVN) |
3. Hai bên tái khẳng định ủng hộ hệ thống thương mại đa phương không phân biệt đối xử, mở, công bằng, bao trùm, bình đẳng, minh bạch và dựa trên luật lệ. Lãnh đạo hai nước tái khẳng định cam kết thúc đẩy các quyền và nguyên tắc lao động được quốc tế công nhận, việc làm thoả đáng và tăng trưởng kinh tế bao trùm phù hợp với các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc tiếp tục phối hợp tại ILO, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Nhóm Ngân hàng Thế giới (WBG), APEC và CPTPP. Các cam kết này nhằm dỡ bỏ các rào cản tiếp cận thị trường, thúc đẩy mở cửa thị trường cho hàng hóa của nhau, tạo thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ giữa hai nước, hỗ trợ doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng liên quan. Hai bên hoan nghênh các nỗ lực nhằm tăng cường đầu tư trực tiếp hai chiều ở Việt Nam và Canada. Việt Nam khẳng định sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Canada đầu tư và kinh doanh ổn định, lâu dài tại Việt Nam.
4. Các nhà Lãnh đạo cũng hoan nghênh nỗ lực tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các tỉnh, vùng lãnh thổ và chính quyền đô thị của Canada, cũng như giữa các cơ quan xúc tiến thương mại-đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Hợp tác về Giao thông vận tải, Quản lý chuỗi cung ứng và Hạ tầng
1. Các nhà Lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của các chuỗi cung ứng và vận tải hàng hải, hàng không tự cường, đa dạng và đáng tin cậy; nhất trí phối hợp tháo gỡ các rào cản tiếp cận thị trường, tạo thuận lợi cho gia tăng thương mại, tăng cường khả năng tự cường của lĩnh vực hàng hải và duy trì tính liên tục của chuỗi cung ứng.
2. Hai bên cũng hoan nghênh tiến triển về hợp tác vận tải song phương, bao gồm việc ký Bản ghi nhớ về Hợp tác vận tải biển và các tham vấn về vận tải hàng không trong tháng 9/2026, theo đó mở rộng năng lực dịch vụ hàng không và tự do hóa hơn nữa phụ lục đường bay của Hiệp định Vận tải Hàng không Việt Nam-Canada để tạo điều kiện cho các dịch vụ bay thẳng.
3. Các nhà Lãnh đạo tái khẳng định tầm quan trọng của hợp tác giảm phát thải từ hoạt động vận tải biển. Theo đó, hai bên thúc đẩy các sáng kiến vận tải biển xanh như Bản ghi nhớ về Hành lang Hàng hải Xanh giữa nhiều cảng và nhiều khu vực tài phán tại Thái Bình Dương, đồng thời nghiên cứu cơ hội hỗ trợ phát triển và triển khai nhiên liệu phát thải các-bon thấp và các công nghệ không phát thải.
4. Các nhà Lãnh đạo cũng hoan nghênh việc tiếp tục hợp tác giữa các quan chức hàng không dân dụng và các đối tác khu vực chủ chốt trong khu vực nhằm mở rộng hỗ trợ có trọng tâm về an ninh hàng không tại các sân bay trọng điểm ở Việt Nam, qua đó nâng cao công tác giám sát chung và kiểm soát chất lượng.
Hợp tác về Chuyển đổi số, Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ tiên tiến và Đổi mới sáng tạo
1. Nhận thức được cơ hội to lớn mà chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ tiên tiến mang lại trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, tạo việc làm chất lượng cao và mở ra các dư địa tăng trưởng kinh tế mới, các nhà Lãnh đạo cam kết nghiên cứu thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt thông qua hợp tác tại các diễn đàn đa phương bao gồm APEC và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, cũng như trong ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Lãnh đạo hai nước nhất trí nghiên cứu các cơ hội thúc đẩy chuyển đổi số bền vững, xây dựng các hệ sinh thái số an toàn, cải thiện hạ tầng, an ninh mạng và quản trị dữ liệu, phù hợp với quy định trong nước và luật pháp quốc tế.
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Canada-Việt Nam. (Ảnh: TTXVN) |
2. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh các cơ hội hợp tác thông qua các cơ chế của ASEAN, bao gồm Chương trình ASEAN-Canada AI Connect nhằm nâng cao năng lực, thúc đẩy quản trị AI có trách nhiệm và phát triển số bao trùm.
3. Lãnh đạo hai nước cũng hoan nghênh quan hệ đối tác ngày càng phát triển giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời nhất trí hỗ trợ hợp tác nghiên cứu, lưu chuyển nhân tài và đối tác đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực chiến lược như STEM, trí tuệ nhân tạo, công nghệ lượng tử và bán dẫn. Lãnh đạo hai nước cũng nhất trí hợp tác hỗ trợ phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, ghi nhận sự hỗ trợ của Canada dành cho các hội thảo sắp tới về đổi mới sáng tạo xanh và khởi nghiệp bền vững.
Hợp tác về An ninh năng lượng, Môi trường và Tăng trưởng bền vững
1. Lãnh đạo hai nước khẳng định an ninh năng lượng là nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp và thịnh vượng lâu dài. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, với chi phí hợp lý và bền vững, qua đó hỗ trợ khả năng chống chịu của nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy các nỗ lực chuyển dịch năng lượng. Lãnh đạo hai nước nhấn mạnh vai trò của Canada là đối tác năng lượng tin cậy có thế mạnh về các công nghệ năng lượng truyền thống, công nghệ năng lượng tái tạo và công nghệ năng lượng mới nổi; hoan nghênh cơ hội làm sâu sắc hợp tác song phương nhằm hỗ trợ mục tiêu an ninh năng lượng và phát triển bền vững của Việt Nam, đồng thời tạo thuận lợi cho các cơ hội tăng trưởng, đầu tư và xuất khẩu cho ngành năng lượng Canada.
2. Lãnh đạo hai nước hoan nghênh việc ký kết Bản Ghi nhớ về Hợp tác Năng lượng và Chuyển đổi Năng lượng Sạch giữa Việt Nam và Canada, nhất trí mở rộng hợp tác về năng lượng truyền thống và năng lượng sạch, bao gồm khí tự nhiên hoá lỏng (LNG), hydrogen, năng lượng tái tạo và các công nghệ hỗ trợ chuyển dịch năng lượng, quản lý các-bon và tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế thông qua chia sẻ kinh nghiệm. Hai bên hoan nghênh đối thoại về tiềm năng hợp tác hạt nhân dân sự giữa các bên liên quan của Việt Nam và Canada. Hai bên cam kết nghiên cứu cơ hội hợp tác phát triển điện mặt trời và điện gió bao gồm chia sẻ chuyên môn về điện gió trên bờ và ngoài khơi.
3. Các nhà Lãnh đạo tái khẳng định cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu và nhất trí thúc đẩy hợp tác về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Hai bên cũng hoan nghênh việc ký kết Bản Ghi nhớ về Tăng cường Hợp tác Môi trường giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam với Bộ Môi trường và Biến đổi Khí hậu Canada, trong đó tập trung vào các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm như thích ứng biến đổi khí hậu, phát thải khí methane, chống ô nhiễm bao gồm ô nhiễm nhựa, thiên nhiên và các vấn đề khác.
4. Lãnh đạo hai nước khẳng định cơ sở hạ tầng bền vững và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu có ý nghĩa then chốt đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thịnh vượng và năng lực cạnh tranh về dài hạn của mỗi nước. Theo đó, các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh dự án “Đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam” do Canada tài trợ, theo đó, các đô thị của Canada và các đối tác tại một số khu vực đô thị được lựa chọn của Việt Nam sẽ cùng trao đổi chuyên môn về cơ sở hạ tầng có khả năng chống biến đổi khí hậu và quản lý chất thải, đồng thời giới thiệu các công nghệ và giải pháp của Canada nhằm ứng phó với những thách thức chung liên quan đến khí hậu.
5. Các nhà Lãnh đạo tiếp tục hoan nghênh Canada tiếp tục hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP), bao gồm thông qua các khoản tài chính ưu đãi do Ngân hàng Thế giới quản lý. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy triển khai Dự án Thúc đẩy Chuyển đổi nhanh Năng lượng tái tạo tại Việt Nam (REACH), nhằm hỗ trợ lưới điện của Việt Nam tích hợp thêm nguồn điện gió và điện mặt trời. Ngoài ra, các khoản hỗ trợ phát triển và nguồn tài chính của FinDev Canada dành cho các sáng kiến phát thải các-bon thấp được ghi nhận là những đóng góp có giá trị đối với các mục tiêu phát thải ròng bằng “0” và tăng trưởng bền vững.
Hợp tác về An ninh lương thực và Nông nghiệp-Thực phẩm
1. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh vai trò then chốt của hợp tác nông nghiệp và nông nghiệp - thực phẩm trong việc bảo đảm nguồn cung lương thực ổn định, thúc đẩy phát triển bền vững và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm. Các nhà Lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp-thực phẩm và thủy sản, với tổng kim ngạch thương mại các sản phẩm nông nghiệp-thực phẩm và thủy sản đạt gần 1,7 tỷ CAD trong năm 2025, qua đó cho thấy tính bổ trợ mạnh mẽ giữa các ngành nông nghiệp của hai nước. Các nhà Lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác về an ninh lương thực, nông nghiệp bền vững và đổi mới sáng tạo trong công nghệ nông nghiệp. Hai bên hoan nghênh việc thiết lập Đối thoại Nông nghiệp Việt Nam-Canada nhằm tăng cường hợp tác nông nghiệp.
 |
| Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chính sách "Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam-Canada trong bối cảnh thế giới đầy biến động”. (Ảnh: TTXVN) |
2. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc gia hạn Bản ghi nhớ về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS) giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Cơ quan Kiểm tra Thực phẩm Canada (CFIA) nhằm tăng cường hợp tác quản lý, an toàn thực phẩm, sức khỏe động thực vật, thương mại nông nghiệp và bền vững môi trường, tạo thuận lợi cho thương mại nông-lâm-thủy sản an toàn, dự báo được và hiệu quả.
3. Hai bên hoan nghênh các sáng kiến hợp tác kỹ thuật như Mạng lưới ASEAN-Canada về Tiêu chuẩn Nông nghiệp và An toàn Thực phẩm (CANSAFE) và các sáng kiến hợp tác khác về pháp quy.
Hợp tác về Quốc phòng, An ninh, Hàng hải, Thực thi pháp luật và Tư pháp
1. Nhận thức rằng môi trường an ninh ngày càng phức tạp và có tính kết nối cao đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các đối tác tin cậy, các nhà Lãnh đạo tái khẳng định cam kết tăng cường đối thoại quốc phòng, tiếp tục hợp tác thông qua Đối thoại Chính sách Quốc phòng thường niên và Kế hoạch ba năm về Hợp tác Quốc phòng, đồng thời nhất trí nghiên cứu các cơ hội hợp tác an ninh, bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa; nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển; và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh Canada tham dự Triển lãm Quốc phòng Việt Nam; cũng như việc Canada tiếp tục cung cấp cơ hội đào tạo cho cán bộ quân đội Việt Nam thông qua Chương trình Hợp tác và Đào tạo Quân sự; đồng thời hoan nghênh việc Việt Nam thông báo sẽ thành lập Văn phòng Tùy viên Quốc phòng thường trú tại Canada.
2. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí nghiên cứu tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực như an ninh mạng, nâng cao nhận thức hàng hải, hợp tác giữa các quân chủng, tình báo, công nghiệp quốc phòng, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phù hợp với khả năng của mỗi nước; đồng thời duy trì tham vấn và hỗ trợ lẫn nhau trong hợp tác quốc phòng khu vực và đa phương nhằm thúc đẩy đối thoại, ngăn ngừa xung đột, tăng cường khả năng chống chịu có phối hợp và duy trì một môi trường an ninh quốc tế ổn định. Các nhà Lãnh đạo ghi nhận mong muốn của Canada tham gia các cơ chế ADMM+ phù hợp trên cơ sở đồng thuận của ASEAN, bao gồm việc Canada có quy chế Quan sát viên tại các Nhóm Công tác Chuyên gia ADMM+ trong giai đoạn 2027-2029. Hai bên cũng tái khẳng định hợp tác nhằm tăng cường năng lực của Việt Nam trong việc đóng góp cho các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đồng thời nhất trí nghiên cứu khả năng tiếp tục hợp tác hỗ trợ Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam trở thành một trung tâm xuất sắc về huấn luyện gìn giữ hòa bình tại khu vực Đông Nam Á.
3. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh những trao đổi ban đầu về hợp tác hải quan. Hai nước sẽ nghiên cứu các phương án nhằm tăng cường năng lực của các cơ quan hải quan trong ứng phó với những rủi ro chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và mang tính xuyên quốc gia; phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý các vi phạm hải quan; đồng thời tạo thuận lợi cho thương mại hợp pháp. Những trao đổi này sẽ đặt nền tảng cho việc đàm phán một Hiệp định Tương trợ Hải quan trong thời gian tới, qua đó thiết lập khuôn khổ pháp lý và hoạt động cho sự hợp tác tin cậy giữa các cơ quan hải quan. Hiệp định sẽ là một công cụ quan trọng giúp các cơ quan hải quan ứng phó hiệu quả hơn với những rủi ro chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp và mang tính xuyên quốc gia, đồng thời tạo thuận lợi một cách hiệu quả cho thương mại hợp pháp.
4. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh rằng những thách thức an ninh do tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia gây ra, bao gồm gian lận quy mô lớn và các khu phức hợp lừa đảo, tội phạm mạng, các dòng tài chính bất hợp pháp và buôn bán ma túy, đặt ra những rủi ro đáng kể đối với an ninh kinh tế, an toàn công cộng và ổn định khu vực. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc trao đổi hướng tới thiết lập cơ chế Đối thoại song phương về An ninh và Thực thi Pháp luật, qua đó hỗ trợ hợp tác trong đấu tranh chống các mối đe dọa này. Liên quan tới hợp tác trong lĩnh vực này, Canada đề nghị nghiên cứu khả năng hợp tác với Việt Nam trong xử lý các mối đe dọa mà hai bên cùng quan tâm, bao gồm đấu tranh chống bóc lột tình dục trẻ em trực tuyến, tội phạm mạng và gian lận được thực hiện với sự hỗ trợ của công nghệ mạng, rửa tiền và tài trợ khủng bố, cũng như buôn bán trái phép ma túy và tiền chất.
5. Các nhà Lãnh đạo cũng tái khẳng định sự ủng hộ kiên định đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; đối với tự do hàng hải và hàng không, thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông; và đối với việc tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của mình, như được xác lập theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc ký Bản ghi nhớ về Hợp tác vận tải biển giữa Bộ Xây dựng Việt Nam và Bộ Giao thông Canada trong đó bao gồm các cam kết hợp tác và trao đổi thực tiễn tốt nhất liên quan đến việc duy trì và nâng cao an ninh vật lý và an ninh mạng trong toàn bộ lĩnh vực hàng hải.
6. Việt Nam và Canada ghi nhận tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác pháp lý song phương nhằm hỗ trợ quản trị hiệu quả, tăng cường hiểu biết lẫn nhau về các khuôn khổ pháp luật và quy định của nhau, đồng thời thúc đẩy các lợi ích chung. Các nhà Lãnh đạo nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác trong các lĩnh vực pháp luật và tư pháp, đồng thời hoan nghênh việc tăng cường trao đổi giữa các quan chức Việt Nam và Canada, cũng như việc tiếp tục hợp tác trong khuôn khổ Dự án Phát triển Năng lực Tư pháp Việt Nam-Canada và những đóng góp của dự án này đối với việc nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động tư pháp. Các dự án này sẽ góp phần cải thiện môi trường thuận lợi cho thương mại, đầu tư và giải quyết tranh chấp thương mại; hỗ trợ việc điều chỉnh các cải cách pháp luật và quy định trong nước phù hợp với CPTPP và các cam kết quốc tế khác; đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận công lý.
Hợp tác về Giáo dục, Văn hóa và Giao lưu nhân dân
1. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh rằng tình hữu nghị bền chặt giữa Việt Nam và Canada bắt nguồn từ các mối liên kết nhân dân mạnh mẽ, với sự đóng góp của cộng đồng người Canada gốc Việt năng động, các hoạt động trao đổi học thuật ngày càng gia tăng, cùng các mối quan hệ thương mại, văn hóa và cộng đồng ngày càng phát triển. Hai bên nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác trong giáo dục đại học, phát triển kỹ năng, nghiên cứu và trao đổi học thuật, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên, bao gồm trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoa học đời sống và chế tạo tiên tiến.
2. Hai bên nhấn mạnh việc mở rộng hỗ trợ dành cho sinh viên, nhà giáo, học giả và nhà nghiên cứu của hai nước tham gia các chương trình giáo dục và đào tạo tại cả hai nước. Việt Nam cũng hoan nghênh việc ngày càng có đông sinh viên, học giả và giáo sư Canada sang học tập, nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học Việt Nam; đồng thời hai nước khuyến khích các trường đại học thiết lập quan hệ đối tác với các cơ sở tương ứng của nhau.
3. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh số lượng các hoạt động trao đổi ngày một tăng giữa sinh viên, nhà nghiên cứu, chuyên gia và lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam và Canada. Các nhà Lãnh đạo ghi nhận đóng góp của Chương trình Học bổng và Học bổng Nghiên cứu Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương dành cho người Canada (IPSFC) trong việc tăng cường hợp tác nghiên cứu giữa hai nước, đồng thời hoan nghênh việc Canada tiếp tục cung cấp các cơ hội học bổng và trao đổi giáo dục dành cho sinh viên và nhà nghiên cứu Việt Nam, bao gồm thông qua Chương trình Học bổng và Trao đổi Giáo dục vì Phát triển (SEED Giai đoạn II). Trong Giai đoạn I, Chương trình SEED đã trao hơn 200 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam sang học tập và nghiên cứu tại Canada, trong khi hơn 40 học giả, nhà nghiên cứu và giảng viên Canada sẽ sang Việt Nam thông qua Chương trình IPSFC.
4. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp và cộng đồng hai nước trên cơ sở phát huy những đóng góp tích cực của các cộng đồng kiều dân, đồng thời hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, du lịch và trao đổi kinh doanh giữa hai nước. Các nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc hoàn tất thành công đàm phán mở rộng Hiệp định Vận tải Hàng không Việt Nam-Canada, một bước tiến mang tính chuyển đổi, qua đó cho phép khai thác các chuyến bay chở khách trực tiếp và các chuyến bay chuyên chở thuần hàng hóa giữa hai nước, góp phần tăng cường giao lưu nhân dân và tạo ra những cơ hội mới cho thương mại và đầu tư. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí khởi động trao đổi bước đầu về Hiệp định Bảo hiểm Xã hội Việt Nam-Canada; thúc đẩy hợp tác giữa các cơ quan Việt Nam và chính quyền địa phương Canada trong các lĩnh vực việc làm và phát triển nguồn nhân lực và hoan nghênh cơ hội đối thoại và trao đổi kinh nghiệm giữa Việt Nam và Canada về các vấn đề liên quan đến việc làm và phát triển nguồn nhân lực.
5. Các nhà Lãnh đạo nhấn mạnh rằng đầu tư vào nguồn nhân lực có ý nghĩa then chốt đối với thịnh vượng, an ninh và phát triển, đồng thời hoan nghênh việc tiếp tục hợp tác phát triển. Cụ thể, các nhà Lãnh đạo nhất trí thúc đẩy triển khai Dự án Quản trị Địa phương Bao trùm (ILG) giúp kết nối các cơ sở giáo dục sau trung học của Canada với Học viện Hành chính và Quản trị công Việt Nam (APAG) nhằm hiện đại hóa chương trình đào tạo công chức của Việt Nam và tăng cường quản trị bao trùm. Các nhà Lãnh đạo cũng hoan nghênh Dự án Tăng cường Sự tham gia Chính trị cho Phụ nữ, thông qua các quan hệ đối tác nhằm trang bị cho phụ nữ Việt Nam những kỹ năng và kiến thức cần thiết để tham gia hiệu quả vào các quá trình lập pháp và hoạch định chính sách trong các lĩnh vực ưu tiên. Việt Nam hoan nghênh đề nghị của Canada tiếp tục cung cấp chuyên môn kỹ thuật trong các lĩnh vực ưu tiên chung, như năng lượng và an toàn thực phẩm, trong đó chú trọng tăng cường giao lưu nhân dân, xây dựng và hoàn thiện các quy định, cũng như chuyển giao các thực tiễn tốt nhất.
6. Các nhà Lãnh đạo nhất trí nghiên cứu các cơ hội tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý du lịch và các bên liên quan trong ngành nhằm quảng bá Việt Nam và Canada như những điểm đến du lịch hấp dẫn. Các nhà Lãnh đạo cũng nhất trí tiếp tục thúc đẩy giao lưu văn hóa, du lịch và các hoạt động góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và Canada, đồng thời mong muốn sớm ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực văn hóa.
Triển khai và Các bước tiếp theo
Bộ trưởng Ngoại giao hai nước phối hợp với các cơ quan liên quan để xây dựng Kế hoạch hành động triển khai các mục tiêu của quan hệ Đối tác chiến lược.
Theo Nhân Dân/TTXVN Xem link nguồn