Tân Trào – Thủ đô Khu giải phóng trong Cách mạng Tháng Tám 1945

Thứ Năm, ngày 2 tháng 7 năm 2026 - 09:14 Đã xem: 766

Cách đây hơn 80 năm, giữa những ngày tháng sục sôi của lịch sử, Tân Trào (Tuyên Quang) đã vinh dự được Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh chọn làm “Thủ đô Khu giải phóng” – trung tâm căn cứ địa vững chắc khơi nguồn cho làn sóng cách mạng vĩ đại, đập tan xiềng xích thực dân, phong kiến, giành lại độc lập cho Tổ quốc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Vì sao Tân Trào được chọn làm Thủ đô Khu giải phóng trong giai đoạn chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước năm 1945

 Đầu tháng 5/1945, tình hình thế giới và trong nước diễn biến có lợi cho cách mạng Việt Nam. Đêm 09/3/1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương, Pháp chống trả yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng. Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau là hành động của chúng ta. Để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc, Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã quyết định chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang), chọn đây làm trung tâm căn cứ địa - Thủ đô Khu giải phóng để lãnh đạo cách mạng của cả nước.

Đình Tân Trào thuộc Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào - nơi họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến 17/8/1945

Sở dĩ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn Tân Trào (Tuyên Quang) làm trung tâm căn cứ địa - Thủ đô Khu giải phóng của cách mạng Việt Nam thời kỳ tiền khởi nghĩa bởi:

- Tân Trào là nơi có địa thế chiến lược để tiến có thể đánh, lui có thể giữ: Khu căn cứ cách mạng Tân Trào là vùng đất rộng, rừng núi đại ngàn, nằm giữa lòng Việt Bắc tiếp giáp các vùng thuộc 3 tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Kạn (nay sáp nhập với tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh Thái Nguyên) và Thái Nguyên. Do đặc điểm của địa hình, đồi núi trong khu căn cứ chiếm 90% diện tích toàn vùng, được che phủ bởi một lớp thảm thực vật nhiệt đới đa dạng, phong phú về chủng loại, có nhiều gỗ quý như: Đinh, lim, sến, táu, nghiến, trai, lát... và bạt ngàn tre, nứa, song, mây, vầu... tạo thành bức màn che phủ đường đi lối lại và nhà ở bên trong, rất tiện lợi cho việc khai thác vật liệu tại chỗ phục vụ xây dựng lán trại, nhà ở, kho tàng, hầm hào, công sự. Những ngọn núi phía Bắc như: Khuổi Đốc (575m), Làng Quan (722m), làng Chạp (501m), cùng những ngọn núi cao ở phía Đông Nam như: Núi Hồng, núi Thia, núi Là Nưa. Những dãy núi ở phía Tây Nam như: Núi Bòng, núi Nản Đeng (núi Đỏ), núi Phủ Màng... vây quanh từng thôn, xóm, bản, làng còn có những ngọn núi thấp hơn, những dãy núi đá dựng vách đứng như những bức tường thành kiên cố, có nhiều hang động thuận lợi cho việc chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng và cất giấu vũ khí, lương thực, thực phẩm... 

Về giao thông, cách trung tâm khu căn cứ về phía Nam 12km có quốc lộ 37 kết nối giữa các tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang - Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai), Quốc lộ 2C từ Sơn Dương đến Vĩnh Yên (Phú Thọ). Đây là 2 con đường bộ lớn góp phần giao lưu kinh tế - xã hội, tạo sức cơ động lực lượng trong tác chiến khi có chiến tranh.

Trước đây vào khu căn cứ cách mạng Tân Trào chỉ có một con đường bộ độc đạo liên xã thuộc huyện Sơn Dương (cũ), nhiều chỗ vòng, tránh, vượt dốc, vượt đèo, đặc biệt là phải qua Đèo Chắn hiểm trở, nhiều đoạn chạy ven theo các chân núi, cạnh sông, suối, khe sâu, vực thẳm, một bên là núi cao, vách đứng, rừng rậm.

Trong nội địa khu căn cứ có một hệ thống giao thông đường mòn xuyên rừng, chằng chịt, dọc ngang nối liền các làng xã, thôn, bản với nhau từ những con đường mòn xuyên núi, vượt đèo, lội suối, cắt rừng, có thể đi khắp mọi hướng như: Từ Tân Trào ngược hướng Bắc qua Thái Nguyên lên Cao Bằng hoặc đi sang các xã phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, ra biên giới Việt - Trung thuận tiện. Phía Đông, vượt các dãy núi Khao Niều, Bản Lá, Khau Nhì, núi Hồng, Khau Lán tới Đại Từ, Định Hóa (Thái Nguyên) và xuôi về Bắc Ninh, Hà Nội. Xuống phía Nam dọc theo chân núi Hồng, Tam Đảo về Lập Thạch (Phú Thọ) sang Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy (Phú Thọ) xuống Hà Nội và về các tỉnh đồng bằng thuận lợi. Từ Tân Trào đi về hướng Tây, sang Lào Cai đến các  tỉnh Tây Bắc dễ dàng.

Hệ thống giao thông kể trên chính là đường dây liên lạc của các đoàn quân cách mạng Nam tiến, Bắc tiến trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Giao thông khu vực tuy có khó khăn, hiểm trở song cũng khá cơ động, linh hoạt. Do vậy Tân Trào thực sự là vùng đất “Địa lợi”, tiến có thể đánh, lui có thể giữ.

- Nhân dân Tân Trào có truyền thống đấu tranh cách mạng, nơi có cơ sở cách mạng sớm, phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ.

Trải qua quá trình lịch sử đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên, chống lại áp bức cường quyền của chế độ thống trị trong nước và nạn ngoại xâm, nhân dân khu căn cứ cách mạng Tân Trào đã kề vai sát cánh cùng nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang xây dựng nên truyền thống đấu tranh của dân tộc mình, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn gian khổ, tự lực, tự cường, cần cù và dũng cảm, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, quyết tâm giành độc lập, tự do ... là đức tính, truyền thống quý báu mang bản sắc của các dân tộc trong khu căn cứ cách mạng Tân Trào.

Ngày 31/5/1884 thực dân Pháp đánh chiếm Tuyên Quang. Con, em của nhân dân các dân tộc Tân Trào tham gia trận phục kích tại Hòa Mục (xã Thái Long, huyện Yên Sơn - nay là phường Bình Thuận, tỉnh Tuyên Quang) gây cho địch thiệt hại nặng nề. Dưới chế độ áp bức của thực dân, phong kiến, những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhân dân các dân tộc vùng Tân Trào đã liên tiếp nổi dậy đấu tranh chống lại chế độ thống trị hà khắc của thực dân Pháp và tay sai.

Sau khi Chi bộ Mỏ Than ra đời (ngày 20/3/1940), chỉ trong một thời gian ngắn, các cơ sở cách mạng, các phong trào quần chúng đã được xây dựng ở khắp nơi trên đất Tuyên Quang, tác động sâu sắc đến khu vực Tân Trào. Các buổi lễ ăn thề của đồng bào các dân tộc đã được chuyển hóa thành những buổi tuyên truyền, vận động đấu tranh cách mạng; các cuộc đấu tranh chống thuế, chống nhổ lúa trồng thầu dầu... được tổ chức chặt chẽ và coi như những cuộc tập dượt cho quần chúng cách mạng. 

Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, lực lượng Cứu quốc quân ngày càng lớn mạnh, đòi hỏi sự tổ chức và chỉ huy chặt chẽ, tháng 02/1944, Trung ương Đảng đã cử đồng chí Hoàng Quốc Việt lên kiểm tra tình hình vùng Tân Trào - Núi Hồng. Căn cứ vào sự phát triển của cách mạng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã thay mặt Trung ương Đảng quyết định chia chiến khu Hoàng Hoa Thám thành hai Phân khu: Phân khu Quang Trung (Phân khu A), Phân khu Nguyễn Huệ (Phân khu B). Sau khi Phân khu Nguyễn Huệ hình thành, ngày 25/02/1944, Đội Cứu quốc quân III được thành lậpđể phát triển lực lượng vũ trang, kịp thời đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng ở Tuyên Quang đang phát triển mạnh mẽ. Đồng thời tích cực xây dựng vùng Tân Trào thành căn cứ trung tâm của Phân khu B.

Tại Khu căn cứ Tân Trào, lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân được củng cố, tập dượt chuẩn bị khởi nghĩa. Lực lượng chính trị đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Lực lượng vũ trang ra đời và trưởng thành nhanh chóng. Mặt trận Việt Minh đón chờ thời cơ thuận lợi để đưa phong trào cách mạng tiếp tục tiến lên. Đây là một trong những nhân tố để Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định rời Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) tiếp tục chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

- Tân Trào là nơi có điều kiện thuận lợi để tự cấp, tự túc lương thực, chuẩn bị và đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu về hậu cần tại chỗ cho lực lượng cách mạng.

Cư dân nơi đây chủ yếu là đồng bào các dân tộc Tày, Dao, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí... Mỗi dân tộc tuy có phong tục tập quán riêng, nhưng họ sống không tách biệt, mà thường xen cư, hình thành từng bản, làng trong các thung lũng, hoặc sống phân tán trên các triền núi, nơi có nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. Dân cư phân bố không đồng đều và cũng thưa dần từ Nam đến Bắc. Đồng bào trong khu căn cứ sống chủ yếu bằng các nguồn lợi từ rừng, trồng cây lương thực như: lúa, ngô, sắn... và chăn nuôi gia súc, đáp ứng cơ bản lương thực, thực phẩm cho nhân dân và nhu cầu về hậu cần tại chỗ cho căn cứ cách mạng. 

Như vậy, là với vị trí chiến lược hiểm yếu, Tân Trào có đầy đủ các yếu tố cần thiết của một căn cứ chiến lược, cơ động, vững chắc, có thể đảm bảo an toàn cho cơ quan đầu não của Đảng và các lực lượng cánh mạng trở thành căn cứ địa an toàn cho các lực lượng kháng chiến, đồng thời, đảm bảo được những nhu cầu tự cấp, tự túc về kinh tế và hậu cần.

Tân Trào - Trung tâm căn cứ địa - Thủ đô Khu giải phóng

Sau khi về Tân Trào, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng luôn theo sát tình hình thế giới. Thông qua những cuộc tiếp xúc với đại diện lực lượng Đồng minh, lực lượng cách mạng đã tranh thủ sự giúp đỡ của quân đồng minh về vũ khí, điện đài và sĩ quan huấn luyện qua các chuyến thả dù của Đồng minh xuống Tân Trào, sân bay Lũng Cò (xã Thanh La - nay là xã Minh Thanh), đây là yếu tố quan trọng để cách mạng đón được thời cơ, góp nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngày 08/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, chỉ trong vòng một tuần đã đánh bại đội quân Quan Đông Nhật. Các nước Đồng minh đồng loạt tấn công vào các vị trí phòng thủ của Nhật. Phát xít Nhật thất bại trên các mặt trận. Lực lượng Nhật và tay sai ở Đông Dương tê liệt, hoang mang, rệu rã. Thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền của cách mạng Việt Nam đã đến. 

Tại khu rừng Nà Nưa (xã Tân Trào), từ ngày 14 đến 15/8/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị toàn quốc của Đảng. Hội nghị đưa ra những quyết định chớp thời cơ Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền và quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. 

Từ ngày 16 đến 17/8/1945, hơn 60 đại biểu toàn quốc đại diện các đảng phái chính trị, đoàn thể cứu quốc, dân tộc, tôn giáo tham dự Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào. Đại hội biểu thị ý chí, quyết tâm sắt đá giành độc lập của toàn thể nhân dân Việt Nam; bầu ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tiền thân của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, quy định Quốc kỳ, Quốc ca. 

Ngay trong ngày 16/8/1945, không khí cách mạng sục sôi trên cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi tổng khởi nghĩa: “Hỡi đồng bào yêu quý! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến… Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(1). Trước đình Tân Trào, sáng ngày 17/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên trong Ủy ban Dân tộc Giải phóng làm lễ tuyên thệ. Người hô vang lời thề giành độc lập dân tộc: “Chúng tôi là những người được Quốc dân đại biểu bầu vào Uỷ ban dân tộc giải phóng để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, không lùi bước. Xin thề!” (2). Đình Tân Trào đã chứng kiến sự kiện mang tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, nơi minh chứng lời thề độc lập trở thành hiện thực.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta triệu người như một đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(3). 

Thành công vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đã minh chứng cho vai trò lịch sử không thể thay thế của Tuyên Quang. Vùng đất này không chỉ là nơi chở che cho Đảng, cho cách mạng trong giông bão, mà còn là biểu tượng rực rỡ của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của nghệ thuật tạo dựng và chớp thời cơ cách mạng.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng tầm vóc và giá trị lịch sử của Tân Trào - Thủ đô Khu giải phóng vẫn nguyên vẹn và luôn là niềm tự hào to lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang. Nâng cao lòng tự hào về quá khứ hào hùng, Tuyên Quang hôm nay quyết tâm viết tiếp những trang sử mới trong thời kỳ hội nhập. Tinh thần Tân Trào, tinh thần của Thủ đô Khu giải phóng sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường, cổ vũ nhân dân Tuyên Quang nói riêng và nhân dân cả nước nói chung kiên bước trên con đường đổi mới, vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.

Đức nguyễn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, t.3, tr.596.

(2). Anh Cả Nguyễn Lương Bằng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.165-166.

(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2021, t.4, tr.3.

CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG

Tổng số: 0 | Trang: 1 trên tổng số 0 trang  
Xem tin theo ngày:   / /