Tuyên Quang: Bảo đảm an ninh năng lượng gắn với chuyển dịch năng lượng xanh

Thứ Năm, ngày 27 tháng 8 năm 2026 - 07:41 Đã xem: 73

Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW, ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh Tuyên Quang đang phát huy lợi thế về thủy điện, mở rộng năng lượng tái tạo, hiện đại hóa hạ tầng điện, đẩy mạnh tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi số, hướng tới nền tảng an ninh năng lượng vững chắc, xanh và bền vững.

Từ quán triệt nghị quyết đến tổ chức thực hiện

Bảo đảm an ninh năng lượng là nhiệm vụ chiến lược, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và toàn xã hội. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, tuyên truyền và cụ thể hóa Nghị quyết số 70-NQ/TW bằng các chương trình, kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Ngay sau khi Nghị quyết số 70-NQ/TW ban hành, tỉnh đã tổ chức kết nối Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết của Trung ương, trong đó có Nghị quyết số 70-NQ/TW, đến 189 điểm cầu với 15.981 đại biểu tham dự. Sau hội nghị, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền tiếp tục quán triệt đến cán bộ, đảng viên và tuyên truyền trong các tầng lớp Nhân dân. Nội dung tập trung vào phát triển năng lượng bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình thực hiện.

Công tác truyền thông được triển khai trên báo chí, phát thanh, truyền hình, báo điện tử, nền tảng số và hệ thống thông tin cơ sở. Báo và Phát thanh, truyền hình tỉnh đã thực hiện khoảng 700 tin, bài, trong đó có trên 56 phóng sự, chuyên đề về bảo đảm cung ứng điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm, phát triển năng lượng sạch và chuyển dịch năng lượng xanh.

Việc thể chế hóa nghị quyết được quan tâm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 05-CTr/TU, ngày 25/10/2025 về thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW; Chương trình hành động số 35-CTr/TU, ngày 02/02/2026 thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW về Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia; Nghị quyết số 81-NQ/TU, ngày 14/4/2026 về thu hút đầu tư giai đoạn 2026 - 2030, trong đó định hướng thu hút đầu tư vào năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Nền tảng cung ứng năng lượng được củng cố

Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang góp phần bảo đảm cung ứng điện và điều tiết nguồn nước

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng cung năng lượng sơ cấp trên địa bàn tỉnh đạt trên 392.856 TOE; tổng công suất các nguồn điện đạt 1.359,4 MW, tăng 41,7 MW so với năm 2025; sản lượng điện sản xuất đạt 1.811 GWh, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt trên 71,1%, cho thấy lợi thế về năng lượng tái tạo, đặc biệt là thủy điện, đang tiếp tục được phát huy. Tổng năng lượng cuối cùng đạt trên 180.837 TOE. Sản lượng điện tiết kiệm đạt 71,561 triệu kWh, chiếm 6,87% so với điện thương phẩm. Tiết kiệm điện góp phần giảm chi phí, giảm áp lực lên hệ thống và hạn chế nhu cầu đầu tư mới trong bối cảnh phụ tải ngày càng tăng.

Hệ thống điện của tỉnh cơ bản đáp ứng yêu cầu cung cấp điện an toàn, ổn định và có khả năng kết nối với lưới điện khu vực. Hệ thống cơ bản đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Điện thương phẩm đạt 1.042 triệu kWh, công suất phụ tải cực đại đạt 479,4 MW; chưa xảy ra tình trạng thiếu điện kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh và đời sống Nhân dân.

Toàn tỉnh hiện có 210 cửa hàng bán lẻ xăng dầu với tổng sức chứa khoảng 14.500 m3, cùng hệ thống phân phối LPG cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt. Tuy nhiên, an ninh năng lượng cần được đánh giá toàn diện, bao gồm khả năng tiếp cận, độ tin cậy, khả năng giải tỏa công suất, mức độ đa dạng hóa nguồn cung và khả năng chống chịu trước thiên tai, biến động thị trường.

Phát huy lợi thế thủy điện, mở rộng năng lượng tái tạo

Tuyên Quang có hệ thống sông Lô, sông Gâm cùng nhiều phụ lưu, tạo lợi thế lớn để phát triển thủy điện. Hiện nay, trên địa bàn có 54 dự án thủy điện đang hoạt động với tổng công suất 1.334,4 MW; 11 dự án đang thi công với tổng công suất 178,2 MW; 23 dự án đã được cấp chủ trương đầu tư với tổng công suất 177,3 MW.

Tỉnh định hướng khai thác thủy năng hợp lý, gắn phát điện với sử dụng tổng hợp tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai, bảo đảm an toàn công trình, an toàn vùng hạ du, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Đối với dự án chậm tiến độ hoặc không triển khai, các cơ quan chuyên môn được chỉ đạo rà soát, kiểm tra, giám sát và đề xuất xử lý theo quy định.

Bên cạnh thủy điện, tỉnh đang từng bước mở rộng các nguồn năng lượng tái tạo khác. Công suất điện mặt trời mái nhà hiện đạt trên 28,4 MW. Tỉnh nghiên cứu chính sách hỗ trợ hộ gia đình lắp đặt điện tự sản xuất, tự tiêu thụ, đồng thời nghiên cứu phát triển điện mặt trời mặt hồ tại các hồ thủy điện khi đủ điều kiện. Đối với điện sinh khối, tỉnh có một dự án đang hoạt động công suất 25 MW đấu nối hệ thống điện quốc gia, một nhà máy 22,5 MW tự dùng và một dự án 50 MW đang triển khai.

Đồng bộ nguồn điện với lưới điện, bảo đảm tiếp cận năng lượng

Tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp với Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực miền Bắc triển khai các dự án truyền tải, phân phối điện; tập trung đẩy nhanh tiến độ Dự án đường dây 500 kV Yên Bái - Thái Nguyên và các công trình lưới điện 220 kV, 110 kV trong khu vực. Tổng mức đầu tư các công trình đầu tư, cải tạo hệ thống điện trên địa bàn đạt trên 764 tỷ đồng. Các công trình góp phần nâng cao khả năng truyền tải, giảm tổn thất điện năng, tăng độ tin cậy cung cấp điện và tạo điều kiện giải tỏa công suất các nhà máy điện. Trong thời gian tới, tháo gỡ vướng mắc về quy hoạch, đất đai, lâm nghiệp, bồi thường, giải phóng mặt bằng và hành lang an toàn lưới điện cần tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trọng tâm.

Ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm an ninh năng lượng gắn trực tiếp với mục tiêu công bằng trong tiếp cận điện. Trên địa bàn tỉnh hiện còn 49 thôn thuộc 19 xã với 3.723 hộ chưa được cấp điện từ lưới điện quốc gia; 354 khu, cụm dân cư thuộc 32 xã với 7.936 hộ chưa được cấp điện. Ngoài ra, có 443 khu, cụm dân cư thuộc 44 xã với 16.784 hộ do Nhân dân tự đầu tư kéo điện, chất lượng và độ an toàn chưa bảo đảm. Hiện tại tỉnh đã bố trí vốn cấp điện cho 34/49 thôn, góp phần cung cấp điện cho khoảng 2.395 hộ dân. Địa hình chia cắt, dân cư phân tán và thiên tai thường xuyên khiến chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi phải ưu tiên địa bàn, huy động đa dạng nguồn vốn và lựa chọn giải pháp phù hợp.

Chuyển đổi số, tiết kiệm năng lượng tạo động lực mới

 

Kỹ thuật viên lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái tại phường Minh Xuân, minh họa xu hướng phát triển năng lượng sạch trên địa bàn tỉnh

Chuyển đổi số đang tạo chuyển biến tích cực trong quản lý, vận hành và cung cấp dịch vụ điện. Toàn tỉnh có 493.007 công tơ điện tử, đạt 100%; trong đó 457.498 công tơ đo xa, đạt 93,58%. Tỷ lệ thu thập dữ liệu từ xa đạt 98,61%; thanh toán tiền điện không dùng tiền mặt đạt 100%; 100% dịch vụ điện được thực hiện theo phương thức điện tử.

Những kết quả này góp phần nâng cao tính chính xác, minh bạch trong ghi chỉ số, quản lý điện năng và phục vụ khách hàng, đồng thời tạo nền tảng xây dựng cơ sở dữ liệu ngành năng lượng. Trong giai đoạn tới, dữ liệu thống nhất về cung, cầu, phụ tải, sự cố, tiến độ dự án, năng lượng tái tạo và phát thải sẽ giúp công tác dự báo, điều hành và quản lý nhu cầu điện chủ động hơn.

Năng lượng đồng hành với phát triển kinh tế - xã hội

Cung ứng năng lượng ổn định là tiền đề để tỉnh Tuyên Quang duy trì sản xuất công nghiệp, phát triển thương mại, dịch vụ, đô thị, nông nghiệp và chuyển đổi số. Hệ thống nhà máy thủy điện, lưới điện truyền tải và phân phối cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng điện, tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, mở rộng sản xuất và nâng cao đời sống Nhân dân.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách từ lĩnh vực năng lượng đạt trên 1.143,6 tỷ đồng. Ngành năng lượng tạo việc làm cho hàng nghìn lao động, tham gia các hoạt động an sinh xã hội, hỗ trợ xây dựng hạ tầng, trường học, nhà ở và công trình dân sinh. Tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 99,02%, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển. Tuy nhiên, những khu vực còn bán kính cấp điện lớn, chất lượng điện năng thấp hoặc hệ thống tự đầu tư chưa bảo đảm vẫn cần được quan tâm bằng giải pháp lâu dài.

Tháo gỡ điểm nghẽn, hướng tới mục tiêu năm 2030 và tầm nhìn 2045

Bên cạnh kết quả đạt được, cơ chế hỗ trợ điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ và phương tiện giao thông sạch chưa đầy đủ; tiến độ phát triển, chuyển giao hạ tầng lưới điện ở một số nơi còn chậm; nguồn lực đầu tư lưới điện nông thôn chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn cung xăng dầu có thời điểm gián đoạn, nhất là dầu DO; dữ liệu về LNG, trung tâm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính cần tiếp tục hoàn thiện.

Thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền; xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu, cơ quan đầu mối và cơ chế phối hợp liên ngành. Quy hoạch nguồn điện, lưới điện phải đồng bộ với quy hoạch sử dụng đất, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông và yêu cầu giải phóng mặt bằng. Các dự án chậm tiến độ cần được rà soát, phân loại nguyên nhân và xử lý phù hợp. Ưu tiên đầu tư lưới điện nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, ngành điện và các chương trình mục tiêu. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ và hệ thống lưu trữ; khuyến khích phát triển điện sinh khối, điện mặt trời mặt hồ và các mô hình năng lượng sạch phù hợp.

Đến năm 2030, Tuyên Quang phấn đấu công suất phụ tải cực đại đạt khoảng 800 MW, điện thương phẩm trên 3.000 triệu kWh, tổng công suất nguồn phát trên 1.800 MW, sản lượng điện sản xuất khoảng 7 tỷ kWh mỗi năm, tỷ lệ tổn thất điện năng dưới 4,5%. Tỉnh đặt mục tiêu tiết kiệm năng lượng khoảng 7%, tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ, triển khai quản lý nhu cầu và điều chỉnh phụ tải, thúc đẩy điện mặt trời mái nhà kết hợp lưu trữ năng lượng.

Tầm nhìn đến năm 2045 đòi hỏi Tuyên Quang từng bước hình thành hệ sinh thái năng lượng xanh dựa trên lợi thế địa phương, hạ tầng lưới điện hiện đại, quản trị bằng dữ liệu, nhân lực chất lượng cao và cơ chế phối hợp hiệu quả. Trong hệ sinh thái đó, thủy điện tiếp tục giữ vai trò quan trọng, được bổ trợ bởi điện mặt trời, điện sinh khối, lưu trữ năng lượng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và các công nghệ phát thải thấp.

Bảo đảm an ninh năng lượng gắn với chuyển dịch năng lượng xanh cần sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng hành của doanh nghiệp và sự tham gia của người dân. Trên nền tảng đã tạo dựng, Tuyên Quang có cơ sở phát huy tiềm năng năng lượng, nâng cao chất lượng cung ứng, thu hẹp khoảng cách tiếp cận và thúc đẩy tăng trưởng xanh.

Lê Hải – Ban TGDV Tỉnh uỷ

CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG

Tổng số: 0 | Trang: 1 trên tổng số 0 trang  
Xem tin theo ngày:   / /