Đổi mới phương thức quản lý, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, chủ động kiểm soát ô nhiễm, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Đối với tỉnh Tuyên Quang sau hợp nhất, với quy mô diện tích gần 13.800 km², dân số khoảng 1,73 triệu người, số lượng các cơ sở sản xuất, khu, cụm công nghiệp và hoạt động khai thác khoáng sản ngày càng gia tăng, áp lực đối với công tác bảo vệ môi trường cũng lớn hơn. Trong bối cảnh đó, việc đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số được xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm, góp phần bảo đảm môi trường sống và phát triển bền vững.
Hiện nay, toàn tỉnh quản lý 01 khu kinh tế, 02 khu công nghiệp, 08 cụm công nghiệp, 51 làng nghề và làng nghề truyền thống, hơn 120 dự án đầu tư trong các khu, cụm công nghiệp cùng trên 200 cơ sở khai thác khoáng sản; trong đó có trên 40 cơ sở thuộc nhóm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Đây vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác quản lý, giám sát và kiểm soát ô nhiễm trên địa bàn. Trước yêu cầu thực tiễn đó, tỉnh đã tập trung rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất sau hợp nhất; đồng thời triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Hình ảnh Khu công nghiệp Long Bình An của tỉnh Tuyên Quang
Cùng với hoàn thiện thể chế, công tác cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực môi trường được chú trọng triển khai. Hệ thống dịch vụ công trực tuyến, cơ chế một cửa, một cửa liên thông tiếp tục được duy trì, góp phần giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp. Trong năm 2025, các cơ quan chuyên môn đã tiếp nhận, thẩm định 53 tờ khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và khí thải; giải quyết 24 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép môi trường và 13 hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường. Các hồ sơ cơ bản được giải quyết đúng thời hạn, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường. Nguồn số liệu này cũng đang từng bước được tích hợp, số hóa, tạo nền tảng xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý môi trường theo hướng hiện đại.
Một trong những điểm nhấn nổi bật là việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát và kiểm soát nguồn thải. Tỉnh đã đầu tư, vận hành hệ thống tiếp nhận và tích hợp dữ liệu quan trắc môi trường tại Sở Nông nghiệp và Môi trường, thực hiện kết nối, quản lý dữ liệu và truyền số liệu theo quy định. Hiện nay, trên địa bàn có 09 cơ sở thuộc diện bắt buộc phải lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải và khí thải; trong đó 08 cơ sở đã hoàn thành lắp đặt, 07 cơ sở truyền dữ liệu ổn định về Sở Nông nghiệp và Môi trường. Hệ thống này góp phần nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo sớm, kịp thời phát hiện nguy cơ ô nhiễm từ các nguồn thải lớn, giảm dần phương thức kiểm tra thủ công, từng bước hướng tới quản lý môi trường bằng dữ liệu số.

Đoàn kiểm tra Sở Công Thương kiểm tra tại nhà máy thủy điện Thái An
Cùng với ứng dụng công nghệ, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm tiếp tục được tăng cường theo hướng công khai, minh bạch. Trong năm 2025, ngành chuyên môn đã tiến hành kiểm tra 14 cơ sở, xử phạt vi phạm hành chính đối với 5 tổ chức với tổng số tiền trên 1,03 tỷ đồng. Việc duy trì tiếp nhận thông tin phản ánh thông qua đường dây nóng đã góp phần phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, không để phát sinh các điểm nóng về môi trường trên địa bàn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Sau hợp nhất, phạm vi quản lý được mở rộng trong khi nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế. Hiện toàn tỉnh có 144 cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; trong đó cấp tỉnh có 20 người, cấp xã có 124 người, phần lớn phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực. Trong khi đó, yêu cầu quản lý đối với các lĩnh vực mới như kinh tế tuần hoàn, kiểm kê khí nhà kính, đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số ngày càng cao, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, nâng cao năng lực đội ngũ và đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật.
Đối với công tác quản lý chất thải, tỉnh đang tập trung từng bước nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý theo hướng hiện đại. Hiện nay, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn khoảng 306.527 tấn mỗi năm, tương đương gần 840 tấn mỗi ngày. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị đạt khoảng 95%, tuy nhiên khu vực nông thôn mới đạt khoảng 40%. Hạ tầng xử lý chất thải còn chưa đồng bộ, tỷ lệ xử lý bằng phương pháp chôn lấp vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội hóa, đầu tư công nghệ tiên tiến, nâng cao hiệu quả thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Mặc dù còn không ít khó khăn, thách thức, song nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý, kiểm soát ô nhiễm và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chất lượng môi trường trên địa bàn tỉnh cơ bản được duy trì ổn định. Kết quả quan trắc định kỳ cho thấy chất lượng môi trường không khí tại khu vực đô thị và nông thôn cơ bản nằm trong giới hạn cho phép; chất lượng nước tại các sông, suối chính vẫn được duy trì ở mức tốt. Năm 2025, trên địa bàn tỉnh không xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng và không phát sinh cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc diện phải xử lý theo quy định.
Cùng với chuyển đổi số, tỉnh Tuyên Quang đang từng bước hướng tới mô hình quản lý môi trường hiện đại, lấy phòng ngừa là chính, lấy dữ liệu làm nền tảng và công nghệ làm công cụ hỗ trợ. Việc tăng cường giám sát tự động, số hóa dữ liệu, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải sẽ góp phần giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm ngay từ cơ sở, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Đây cũng là xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực môi trường; hoàn thiện cơ sở dữ liệu, nâng cao năng lực quan trắc, giám sát tự động, tăng cường kiểm soát các nguồn thải có nguy cơ cao; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư hạ tầng xử lý chất thải theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường. Cùng với đó, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng, xây dựng ý thức sống xanh, sản xuất xanh và tiêu dùng bền vững trong Nhân dân.
Bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng và sự phát triển bền vững của địa phương. Trong bối cảnh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng, việc đổi mới phương thức quản lý, ứng dụng khoa học công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực môi trường là yêu cầu tất yếu. Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị cùng sự đồng thuận của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tỉnh Tuyên Quang sẽ tiếp tục nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm, xây dựng nền quản lý môi trường hiện đại, chủ động và hiệu quả. Qua đó, góp phần bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển xanh, tăng trưởng bền vững, xây dựng Tuyên Quang trở thành địa phương phát triển theo hướng xanh, thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu trong giai đoạn mới.
Hải Đăng