Giai đoạn 2021 - 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn. Tuy nhiên, với tinh thần chủ động, Tuyên Quang đã cải thiện đáng kể môi trường đầu tư kinh doanh, đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng trọng tâm, trọng điểm. Minh chứng rõ nét là toàn tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 179 dự án ngoài ngân sách với tổng vốn đăng ký đạt trên 56.029 tỷ đồng. Sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu vốn với vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế tư nhân, cùng sự xuất hiện của các tập đoàn lớn và dự án FDI đã tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc hình thành và đưa vào khai thác các tuyến giao thông chiến lược kết nối Tuyên Quang với Phú Thọ, Hà Giang và các trung tâm kinh tế lớn đã mở ra cơ hội phát triển mới. Tỉnh xác định thu hút đầu tư là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, là động lực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của tỉnh là thu hút đầu tư có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, gắn liền với chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030
Tuyên Quang đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 sẽ thu hút khoảng 150 dự án mới với tổng vốn tăng thêm từ 70.000 đến 75.000 tỷ đồng, trong đó dòng vốn FDI chiếm khoảng 15.000 đến 20.000 tỷ đồng (tương đương 600 - 800 triệu USD). Tỉnh cũng hướng tới mục tiêu mời gọi được ít nhất 3 doanh nghiệp thuộc Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam (VNR500) đầu tư dự án mới, đồng thời đưa 100% thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, doanh nghiệp đủ điều kiện lên dịch vụ trực tuyến mức độ cao.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, định hướng theo ngành và vùng lãnh thổ đã được vạch rõ. Về công nghiệp, tỉnh tập trung phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, gỗ, giấy và dược liệu nhằm xây dựng Tuyên Quang thành trung tâm của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, song song với việc mở rộng mạng lưới khu, cụm công nghiệp chuyên sâu. Về dịch vụ và du lịch, tỉnh ưu tiên hạ tầng logistics, y tế, giáo dục chất lượng cao , quyết tâm đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng thông qua việc hiện đại hóa các trọng điểm, như: Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào, Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, danh thắng Quốc gia đặc biệt Na Hang - Lâm Bình, suối khoáng Mỹ Lâm… Về nông nghiệp và đô thị, dòng vốn sẽ được định hướng vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tiếp cận thị trường tín chỉ carbon và xây dựng các khu đô thị thông minh, xanh, đậm đà bản sắc văn hóa.
Chiến lược đối tác cũng được phân định rõ ràng khi tập trung thu hút các tập đoàn toàn cầu, các quốc gia thuộc nhóm G7 và các nền kinh tế mới nổi đối với dòng vốn ngoại; đồng thời đồng hành cùng các tập đoàn kinh tế lớn trong nước đầu tư vào hạ tầng, dịch vụ. Không gian đầu tư sẽ phát triển theo mô hình "Hai cực phát triển - Ba trục liên kết", phân bổ hợp lý các công năng công nghiệp, logistics, du lịch dịch vụ và chuỗi nông - lâm nghiệp chế biến sâu trên địa bàn toàn tỉnh.

Một đoạn tuyến cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang
Để biến các định hướng thành kết quả thực tế, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, hoàn thiện hạ tầng và quy hoạch, tập trung triển khai điều chỉnh quy hoạch tỉnh, lập quy hoạch chung cấp xã để tạo cơ sở pháp lý và quỹ đất sạch cho các dự án chiến lược. Đồng thời, huy động mọi nguồn lực hoàn thành các dự án giao thông trọng điểm liên vùng như Cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang, tuyến kết nối cao tốc Hà Nội - Lào Cai với Hà Giang (CT.12) và các trục giao thông liên tỉnh kết nối Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh…
Thứ hai, vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách, gắn kết thu hút đầu tư với các chủ trương của Trung ương về đối ngoại, kinh tế tư nhân, khoa học công nghệ và an ninh năng lượng; ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Thứ ba, chủ động giải phóng mặt bằng, tạo đất sạch, vận hành hiệu quả Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh nhằm khai thác tốt đất công, tài sản dôi dư phục vụ đấu giá, đấu thầu. Thành lập Tổ công tác đặc biệt để tháo gỡ vướng mắc trong bồi thường, gắn trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương vào tiến độ dự án.
Thứ tư, đột phá cải cách môi trường đầu tư, các thủ tục hành chính chuyển từ “bị động” sang “chủ động phục vụ” trên nền tảng số, cắt giảm tối đa quy trình thủ tục. Tỉnh quyết tâm nâng cao các chỉ số năng lực cạnh tranh và hiệu quả quản trị (PCI, PGI, PAR INDEX...), vận hành đầu mối “một cửa” chuyên nghiệp và xử lý nghiêm mọi hành vi nhũng nhiễu.
Thứ năm, chú trọng nguồn nhân lực và hạ tầng số, tập trung đào tạo lao động chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn như công nghiệp, dịch vụ, du lịch theo mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; đồng thời phát triển hạ tầng viễn thông, hạ tầng số làm nền tảng thu hút kinh tế xanh.
Thứ sáu, đổi mới, chuyên nghiệp hóa xúc tiến đầu tư, tinh gọn bộ máy xúc tiến đầu tư, xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn và ngoại ngữ. Hoạt động ngoại giao kinh tế được đẩy mạnh qua các đại sứ quán, tổ chức quốc tế nhằm quảng bá tiềm năng, xây dựng chương trình xúc tiến hằng năm gắn với chuỗi sinh thái bền vững.
Thứ bảy, siết chặt quản lý, nâng cao hiệu lực kiểm tra, kiên quyết thanh tra, giám sát và thu hồi các dự án chậm tiến độ, kém hiệu quả hoặc không có khả năng triển khai, nhằm giữ vững kỷ cương pháp luật và giải phóng nguồn lực đất đai cho các nhà đầu tư tiềm năng.
Thứ tám, phát huy sức mạnh hệ thống chính trị tạo sự đồng thuận. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tăng cường tuyên truyền, vận động Nhân dân đồng lòng ủng hộ các dự án đầu tư. Sự đồng thuận này là điểm tựa đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, giữ vững an ninh trật tự để tạo môi trường đầu tư an toàn.
Nguyễn Thảo - BTGDVTU