Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá lớn, Người không chỉ lãnh đạo Nhân dân ta giành lại độc lập, tự do mà còn để lại một di sản tư tưởng vô giá về nhiều lĩnh vực. Trong di sản đó, tư tưởng và phương pháp của Người về giáo dục lịch sử dân tộc giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, vừa mang tầm nhìn chiến lược sâu sắc, vừa là kim chỉ nam cho sự nghiệp giáo dục và cách mạng Việt Nam.

Bác Hồ nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong tại Đền Giếng, Đền Hùng, Phú Thọ, ngày 19/9/1954. Người căn dặn: “Ngày xưa các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước…”. Ảnh: Tư liệu
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ chủ định trở thành một nhà sử học chuyên nghiệp. Tuy nhiên, qua từng bài báo, phát biểu, cùng hàng loạt tác phẩm di sản để lại, Người đã thể hiện trọn vẹn bản lĩnh, phương pháp luận và trí tuệ của một nhà nghiên cứu lịch sử kiệt xuất.
Sinh ra trong một gia đình Nho học khoa bảng tại vùng đất Nghệ An giàu truyền thống yêu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được tiếp thu di sản văn hóa, lịch sử phong phú của dân tộc ngay từ thời niên thiếu. Hành trình hơn 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, trực tiếp chứng kiến những biến động lớn lao của lịch sử nhân loại, kết hợp với tư duy luôn gắn liền với thực tiễn đời sống đã tạo nên ở Người sức thuyết phục lay động lòng người khi bàn về lịch sử.
Không dừng lại ở vốn sống thực tế, Người còn là gương sáng về tinh thần tự học, thông thạo nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa, Nga… uyên thâm Hán học, "thông kim bác cổ", hiểu biết sâu sắc cả văn hóa phương Đông lẫn phương Tây. Quan trọng hơn cả, Người đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc phân tích các sự kiện lịch sử.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, tầm quan quan trong của công tác lịch sử. Tại Bài nói chuyện tại lớp nghiên cứu lịch sử Đảng (tháng 7/1956), Bác nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của việc học tập lịch sử đối với công tác lãnh đạo và hành động thực tiễn: "Lịch sử ta phải tóm tắt lại và dạy cho mọi người biết. Phải làm sao cho Đảng viên, thanh niên và nhân dân ta ai cũng thấm nhuần tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, và biết ơn các anh hùng liệt sĩ"; Người cũng nhắc nhở rằng lịch sử là chiếc gương soi để chúng ta đúc rút kinh nghiệm, biết rõ quá khứ để hiểu hiện tại và định hướng tương lai: "Biết lịch sử để làm gì? Để rút kinh nghiệm, để làm cho tốt hơn.". Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở nhân dân ta về công ơn trời biển của các vị anh hùng dân tộc, các bậc tiền bối có công dựng nước và giữ nước. Đối với Người, các anh hùng không chỉ là những nhân vật vĩ đại trong sách vở mà là biểu tượng sống động của tinh thần quật cường dân tộc. Trong chuyến thăm Đền Hùng vào ngày 19/9/1954, trước khi quân đội ta tiếp quản Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có câu nói nổi tiếng để lại cho muôn đời con cháu: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước", câu nói ngắn gọn nhưng đúc kết toàn bộ triết lý lịch sử: sự tiếp nối trách nhiệm thiêng liêng giữa các thế hệ đi trước và thế hệ hôm nay trong việc bảo vệ từng tấc đất của cha ông. Trong các bài viết đăng trên báo chí (như báo Cứu Quốc, báo Nhân Dân dưới các bút danh như C.B., T.L.) nhân các dịp kỷ niệm lớn hoặc ngày giỗ các anh hùng dân tộc, Bác thường ôn lại chiến công hiển hách của họ: Khi nhắc đến Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn hay Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Bác luôn nhấn mạnh nghệ thuật chiến tranh nhân dân, tư tưởng "lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân ("Vua tôi đồng lòng, anh em hoà mục, nước nhà chung sức"); Đặc biệt, khi nói về Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, Bác ca ngợi chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa thần tốc vào mùa xuân năm Kỷ Tỵ (1789), coi đó là minh chứng cho tinh thần chiến đấu ngoan cường, quyết chiến quyết thắng của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định lịch sử Việt Nam là lịch sử của tinh thần yêu nước và đoàn kết. Trong bài viết nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc khánh hoặc các bài diễn văn quan trọng, Người thường đúc kết “Lịch sử ta đã có nhiều vẻ vang oanh liệt. Trải qua bao nhiêu thời đại, dân tộc ta đã chịu đựng muôn vàn gian khổ, hy sinh để giữ vững độc lập tự do". Người chỉ ra rằng, bất kỳ thời kỳ nào, dù kẻ thù có mạnh đến đâu, hễ toàn dân một lòng đoàn kết, đem sức ta mà giải phóng cho ta, thì nhất định sẽ giành được thắng lợi.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lịch sử và các anh hùng dân tộc không mang tính lý luận khô khan, mà luôn gắn liền với giáo dục truyền thống, bồi đắp lòng yêu nước và hành động cách mạng thực tế. Người coi việc học sử là nhiệm vụ chính trị quan trọng để mỗi người dân Việt Nam - đặc biệt là thế hệ trẻ - hiểu rõ giá trị của độc lập, tự do ngày hôm nay mà trân trọng, giữ gìn và phát huy. Đối với Người, lịch sử là một vũ khí cách mạng sắc bén dùng để tuyên truyền, thức tỉnh và giác ngộ quần chúng. Ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX tại Pháp, Người đã khéo léo dùng các đề tài lịch sử qua các tác phẩm như "Kịch con rồng tre", "Lời than vãn của bà Trưng Trắc"... để khơi dậy lòng tự tôn dân tộc và tinh thần chống xiềng xắc nô lệ. Năm 1941, sau hơn 30 năm xa xứ, Bác trở về Pắc Bó (Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Giữa chốn chiến khu gian khổ, bên bàn đá chông chênh, Người đã dịch cuốn "Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô" để làm tài liệu huấn luyện cán bộ: "Sáng ra bờ suối tối vào hang/Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng/Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng/Cuộc đời cách mạng thật là sang". Đặc biệt, cuối năm 1941, tác phẩm "Lịch sử nước ta" ra đời, được viết theo thể thơ lục bát gồm 198 câu dễ thuộc, dễ nhớ, tác phẩm đã khái quát toàn bộ lịch sử dân tộc từ thời Hồng Bàng, trải qua các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn cho đến phong trào Việt Minh. Cuốn sách được in và phát hành nhiều lần (1942, 1947, 1949...), trở thành tài liệu học tập gối đầu giường cho cán bộ và Nhân dân, góp phần trực tiếp chuẩn bị lực lượng tinh thần tiến tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Thông qua tác phẩm, Người hướng giáo dục lịch sử vào việc dựng xây các bài học lớn: Bài học về vai trò của nhân dân; theo Người sức mạnh cách mạng nằm ở Nhân dân, các vị anh hùng trong lịch sử làm nên sự nghiệp cao cả chính là nhờ biết "dựa vào dân”; Bài học về nêu gương, Người dùng những tấm gương lịch sử cụ thể để giáo dục mọi tầng lớp: Đối với Người già thông qua nhân vật lịch sử Lý Thường Kiệt quá 70 tuổi vẫn đánh Đông dẹp Bắc; đối với thanh thiếu niên thông qua nhân vật lịch sử Trần Quốc Toản mới 15 tuổi đã giúp Trần Hưng Đạo đánh phá giặc Nguyên, đối với phụ nữ, hình ảnh Bà Trưng - Bà Triệu ra tay khôi phục giang sơn; Bài học về sức mạnh đoàn kết, lịch sử được Bác đúc kết thành quy luật sinh tồn của dân tộc: Lịch sử ta dạy cho ta bài học: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn.
Không chỉ trực tiếp viết và dạy lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dành sự trân trọng đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu sử học và công trình khoa học nghiêm túc. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt nhất, bên đầu giường nằm của Bác luôn đặt cuốn sách "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông Nguyên thế kỷ XIII" của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm. Trước khi đi xa, Người vẫn không quên gửi lời hỏi thăm đến các tác giả của cuốn sách. Điều đó cho thấy Bác luôn tìm tòi, suy ngẫm những bài học giữ nước của cha ông để áp dụng vào cuộc chiến đấu hiện tại, đồng thời luôn nâng niu những đóng góp của giới tri thức sử học.
Mục đích lớn nhất của Bác khi giáo dục lịch sử cho nhân dân là khơi dậy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", biết ơn tổ tiên, cội nguồn và ý thức trách nhiệm bảo vệ non sông. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục lịch sử dân tộc để lại cho chúng ta những bài học nguyên vẹn giá trị, đó là: Lịch sử là nền tảng lòng yêu nước, giáo dục lịch sử không phải là ghi nhớ khô khan các con số, sự kiện mà là khơi dậy lòng tự hào, tinh thần tự lực, tự cường và sức mạnh đoàn kết dân tộc; Phương pháp giáo dục linh hoạt, đại chúng, cụ thể: Muốn lịch sử đi vào lòng người, phải có phương pháp truyền tải giản dị, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với từng đối tượng.
Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lịch sử chính là tiếp tục thắp sáng ngọn lửa truyền thống, biến những bài học lịch sử vô giá của cha ông thành động lực phát triển đất nước trong thời đại mới.
Đức Nguyễn