KHƠI DẬY NGUỒN LỰC NỘI SINH - ĐỔI MỚI TƯ DUY TRONG GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CHO THẾ HỆ TRẺ HÔM NAY

29/07/2026
162

Chọn giọng đọc trước, sau đó bấm Đọc bài. Đọc qua Viettel AI TTS.

Giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ không thuần túy là việc tái hiện lịch sử, mà còn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng nguồn lực nội sinh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số. Trước thực trạng phân hóa nhận thức và sự bùng nổ của không gian mạng, công tác này đòi hỏi một có sự đổi mới trong tiếp cận, đó là chuyển từ áp đặt một chiều sang dẫn dắt, biến di sản tinh thần của cha ông thành dòng máu tự cường trong thế hệ trẻ hôm nay.

1. Từ khát vọng độc lập, tự do trong sự nghiệp bảo về Tổ quốc

Nằm ở vị trí địa lý quan trọng trong khu vực, chính vì vậy, trong quá trình hình thành và phát triển, Việt Nam được coi là điểm giao thoa của nhiều quốc gia, nhưng cũng là sự điểm nhòm ngó của các thế lực thù địch. Từ đặc điểm đó sớm hình thành trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam ý thức về dựng nước luôn gắn liền với giữ nước. Khát vọng về nền độc lập, tự do luôn được ông cha ta nuôi dưỡng và là mạch nguồn sức mạnh để chống lại mọi thế lực ngoại xâm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.

Hoạt động thăm Đền thờ các Anh hùng liệt sĩ tại điểm cao 468 (xã Thanh Thủy) 

Thực tế lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rất rõ khát vọng độc lập, tự do trong công cuộc bảo về Tổ quốc. Từ truyền thuyết Thánh Gióng đến hòn đá thề trên đỉnh núi Hy Cương (Phú Thọ) nói lên ý chí, khát vọng độc lập của Vua Hùng về sự đoàn kết, thống nhất để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đền nợ nước, trả thù nhà. Triệu Thị Trinh hùng hồn khẳng định: Tôi muốn làm cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người.

Khát vọng độc lập dân tộc đó còn được thể hiện qua lời thơ đanh thép của Lý Thường Kiệt “Sông núi nước Nam, vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách trời…” khiến cho quân Tống xâm lược phải run sợ; trong Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn hiệu triệu vang vong non sông và Bình Ngô đại cáo của Nguyền Trãi: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau. Song hào kiệt đời nào cũng có... ”.

Tiếp nối sự nghiệp dựng nước và giữ nước của các bậc tiền nhân, khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược Việt Nam, các tầng lớp nhân dân ta đã liên tiếp vùng dậy tiếp nối truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm. Tiêu biểu là phong trào Cần Vương với các cuộc khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hóa), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh)...; khởi nghĩa Yên Thế, Thái Nguyên... Vào đầu thế kỷ XX, với tầm nhìn xa, vượt trội so với tư duy cùng thời, những chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã cùng với những người đồng chí hướng khởi xướng phong trào Đông Du và công cuộc Duy Tân - bước đi tiên phong trong việc thực nghiệm con đường cứu nước mới của phong trào yêu nước Việt Nam. Mặc dù không thành công song con đường  đó đã thể hiện khát vọng canh tân, đưa Việt Nam vào hàng ngũ các quốc gia tiến bộ trong thời đại của các bậc tiền nhân lúc đó.

Thời đại Hồ Chí Minh mở ra một trang sử mới cho dân tộc Việt Nam. Với việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Người đã tìm ra con đường đúng đắn nhất đưa cách mạng Việt Nam phát triển đi lên. Là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy khát vọng không có gì quý hơn độc lập tự do, phát huy sức mạnh vô tận của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp kháng chiến kiến quốc. Với quyết tâm “Dù hy sinh tới đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”,… cả dân tộc chung sức, đồng lòng viết lên bản hùng ca về tinh thần độc lập, tự do, bảo vệ giang sơn Tổ quốc.

2. Đến khơi dậy nguồn lực nội sinh, đổi mới tư duy trong giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ hiện nay

Truyền thống cách mạng của dân tộc Việt Nam được hình thành và tôi luyện qua hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước, đặc biệt được phát triển mạnh mẽ từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đó là tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng; là ý chí xung kích, sẵn sàng hy sinh gian khổ; là tình đoàn kết, tương thân tương ái; và là tinh thần hiếu học, sáng tạo, dám nghĩ dám làm. Những giá trị cốt lõi này chính là bộ gene văn hóa, là bệ đỡ tinh thần giúp dân tộc ta vượt qua mọi thác ghềnh lịch sử. 

Những giá trị lịch sử truyền thống trên của dân tộc không chỉ tồn tại trong các thư tịch cổ, di tích lịch sử hay những trang giáo trình bám bụi thời gian, mà còn tồn tại sinh động trong tư duy, hành động và khát vọng của thế hệ kế cận. Trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước đã và đang trở thành một nhiệm vụ chính trị quan trọng, cấp thiết. Trong bối cảnh hiện nay, giáo dục truyền thống không chỉ là việc tôn vinh quá khứ, mà cốt lõi là bồi đắp tư dưỡng đạo đức cách mạng, củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường chủ nghĩa xã hội. Qua đó, giúp thanh niên nhận thức rõ vai trò, sứ mệnh của mình, từ đó hăng hái xung kích trên mặt trận phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đây chính là quá trình chuyển hóa giá trị tinh thần thành sức mạnh vật chất cụ thể. 

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, những năm qua các cấp, các ngành quan tâm với nhiều hình thức, nội dung phong phú thông qua các phong trào như: "Đền ơn đáp nghĩa", "Thắp nến tri ân", hay các chiến dịch thanh niên tình nguyện đầy ý nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế đang làm giảm hiệu quả của công tác này. Thực tế cho thấy, một bộ phận tổ chức Đoàn, Hội vẫn chưa làm tốt vai trò tham mưu, tập hợp và tuyên truyền. Phương thức giáo dục ở nhiều nơi còn mang tính áp đặt, khô khan, giáo điều, khiến người trẻ tham gia với tâm thế bị động, mang tính "trả nợ" hoặc đối phó để hoàn thành nhiệm vụ. Bên cạnh đó, sự lên ngôi của các phương tiện giải trí trực tuyến đang tạo ra một nghịch lý: Thế hệ trẻ sẵn sàng dành nhiều giờ đồng hồ lướt mạng xã hội nhưng lại thờ ơ, thiếu kiến thức về lịch sử nước nhà. Nguy hiểm hơn, một bộ phận nhỏ đang rơi vào lối sống thực dụng, vô cảm, xem nhẹ sự hy sinh của các bậc tiền bối, dễ bị dao động trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Sự đầu tư về nguồn lực, thời gian và kinh phí cho công tác tuyên truyền còn hạn chế, dẫn đến nhiều hoạt động còn mang tính hình thức, chưa bắt kịp xu hướng phát triển và tâm lý tiếp nhận của giới trẻ trong kỷ nguyên số. 

Để đánh thức ý thức hệ, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và biến truyền thống thành hành động cách mạng của tuổi trẻ, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá sau: 

Một là, tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên: Các cấp ủy Đảng, nhất là ở cơ sở, phải sâu sát, đặt công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ vào vị trí trung tâm của chiến lược xây dựng con người. Giáo dục phải đi đôi với rèn luyện bản lĩnh chính trị, giúp thanh niên vững vàng trước các biến động của thời cuộc, tuyệt đối trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Hai là, công nghệ hóa và hiện đại hóa phương thức tuyên truyền: Không thể giữ mãi phương pháp đọc - chép hay thuyết giảng một chiều. Cần tận dụng tối đa lợi thế của Internet và mạng xã hội để lan tỏa các giá trị lịch sử. Xây dựng các sản phẩm truyền thông hiện đại như infographics, video ngắn, ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR) tái hiện các di tích lịch sử, tổ chức các cuộc thi trực tuyến có chiều sâu và sức hút thực chất. 

Ba là, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường - Gia đình - Xã hội: Giáo dục truyền thống không phải là nhiệm vụ đơn độc của tổ chức Đoàn, mà phải là sự đồng loạt, nhất quán từ nếp nhà cho đến giảng đường và môi trường xã hội. Sự nêu gương của người lớn, của cha mẹ và thầy cô chính là bài học trực quan sinh động nhất đối với học sinh, sinh viên. 

Bốn là, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tuyên giáo và dân vận, cán bộ Đoàn: Cần bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn sâu cho đội ngũ làm công tác tư tưởng. Người truyền lửa phải là người có lửa; cán bộ tuyên truyền phải hiểu sâu sắc lịch sử, có tư duy nhạy bén và kỹ năng sư phạm, truyền thông hiện đại để chạm đến trái tim và thức tỉnh nhận thức của thế hệ trẻ. 

Năm là, đa dạng hóa và xã hội hóa các mô hình giáo dục trải nghiệm: Cần đưa thanh niên đến gần hơn với lịch sử thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế, đối thoại trực tiếp với nhân chứng lịch sử, tham gia tu sửa nghĩa trang, "Mái ấm nghĩa tình". Hãy để người trẻ tự mình trải nghiệm, tự mình cảm nhận, từ đó chuyển hóa từ "phải học" sang "muốn tìm hiểu" một cách tự nguyện. 

Giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế không thuần túy là việc ôn lại chương cũ của lịch sử, mà là bản lề để mở ra cánh cửa tương lai. Đầu tư cho giáo dục truyền thống là đầu tư cho cái gốc của dân tộc, tạo ra những thế hệ công dân vừa "hồng" vừa "chuyên". Với một thế hệ trẻ vững vàng về bản lĩnh chính trị, tự hào về nguồn cội và khát khao cống hiến, đất nước ta hoàn toàn có đủ tự tin để vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến trên thế giới, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. 

Đức Nguyễn