Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa vùng Đông Bắc và Tây Bắc, Tuyên Quang là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, nơi hội tụ vẻ đẹp hùng vĩ, đa dạng của núi rừng, sông suối cùng bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc. Sau sắp xếp đơn vị hành chính tháng 7/2025, Tuyên Quang có diện tích tự nhiên 13.795,51 km², 124 đơn vị hành chính cấp xã và dân số trên 1,8 triệu người. Trong suốt chiều dài lịch sử, Tuyên Quang luôn giữ vị trí quan trọng về chính trị, quân sự và quốc phòng ở vùng biên viễn phía Bắc. Đặc biệt, trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tân Trào - Tuyên Quang là Thủ đô Khu Giải phóng; trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Tuyên Quang trở thành Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến, nơi ghi dấu nhiều sự kiện có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử dân tộc. Trên mảnh đất giàu truyền thống ấy, hàng trăm di tích lịch sử, văn hóa cùng những danh lam thắng cảnh đã trở thành những dấu ấn đặc sắc của quê hương. Mỗi di tích, mỗi cảnh quan không chỉ lưu giữ những giá trị của quá khứ mà còn góp phần làm nên bản sắc, niềm tự hào và sức sống của Tuyên Quang hôm nay.
Ban Biên tập Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh giới thiệu chuyên mục “Tuyên Quang - Di tích lịch sử và Danh lam thắng cảnh”, nhằm góp phần giới thiệu những giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan tiêu biểu của quê hương; qua đó bồi đắp niềm tự hào, nâng cao ý thức gìn giữ, phát huy di sản và quảng bá hình ảnh Tuyên Quang đến đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế.
DI TÍCH LỊCH SỬ
THÀNH TUYÊN QUANG
Thành nằm ở phía hữu ngạn sông Lô, giữa hai khu phố Xuân Hoà và Tam Cờ, thuộc địa phận phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang, được xây dựng vào khoảng năm 1533-1548. Thành xây theo kiểu hình vuông, mỗi bề dài 275m, tường thành cao 3,5m, bề dày phía trên cùng thành 0,8m. Ở giữa mỗi mặt thành có một cửa bán nguyệt mở ra bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Trên cửa xây tháp, mái lợp bằng ngói vảy. Bên trong tường thành có một con đường nhỏ để tiếp đạn dược, cấp cứu, tải thương. Gạch xây thành bằng đá ong chứa quặng sắt, rất rắn. Ngoài cùng bao thành là một lớp hào sâu ngập nước.

Cổng Tây Thành Tuyên Quang – dấu tích còn lại của tòa thành cổ từng giữ vị trí quân sự quan trọng ở vùng biên viễn phía Bắc.
Về thời gian xây Thành Tuyên Quang, hiện có nhiều ý kiến khác nhau, có ý kiến cho rằng thành được xây dựng đầu tiên vào khoảng năm 1533-1548 thời kỳ nhà Mạc (nên còn gọi là Thành nhà Mạc).
Có ý kiến cho rằng thành có từ thời nhà Lê. Thời đó triều đình Lê - Trịnh vướng vào cuộc chiến với họ Nguyễn ở Đàng Trong, không cần và cũng không thể đắp một quân thành ở miền núi phía Bắc như Tuyên Quang.
Lời tâu của Nguyễn Đăng Giai vào năm 1844 chứng tỏ thành đắp bằng đất: “Tỉnh Tuyên Quang, thành đất cao đến 3, 4 thước, trên cắm chông tre, nhà cửa nơi sảnh thự rất là tiêu điều”.
Đến thời Nhà Nguyễn, thành tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và gia cố thêm để chống lại cuộc khởi nghĩa của Nông Văn Vân.
Tháng 7 năm 1833, Nông Văn Vân tri châu Bảo Lạc bất mãn với triều đình đã phát động khởi nghĩa, lấy Vân Trung và Ngọc Lạc huyện Bảo Lạc làm căn cứ và được sự hưởng ứng của Thổ ty các châu Bảo Lạc, Đại Man, Vị Xuyên, Thu Vật, Lục Yên (thuộc tỉnh Tuyên Quang) và nhiều thủ lĩnh tỉnh Cao Bằng.
Mở đầu khởi nghĩa, Nông Văn Vân giao Ma Sĩ Vịnh chỉ huy 1.000 nghĩa quân đánh đồn Ninh Biên- phường Hà Giang1 ngày nay. Ngay sau đó, Nghĩa quân đánh chiếm đồn Phúc Nghi, đồn Trinh (thuộc châu Đại Man).
Cuối tháng 10 năm 1833, Nghĩa quân xây dựng đồn lũy dã chiến dày đặc bao vây thành Tuyên Quang.
Tin cấp báo, Minh Mệnh vội sai Tổng đốc Sơn - Hưng- Tuyên Lê Văn Đức đem 600 lính, 5 thớt voi cùng súng lớn đến giải vây thành Tuyên Quang. Liền đó điều thêm quân, voi chiến, súng thần công, thuốc đạn, cấp cho Tuyên Quang.
Không hạ được thành Tuyên Quang, Nông Văn Vân chuyển hướng đánh chiếm tỉnh thành Cao Bằng.
Từ thành Tuyên Quang, Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ chỉ huy quân triều đình chia hai đường tiến lên Vân Trung. Bị Nghĩa quân liên tiếp chặn đánh, khi đến Vân Trung với tình trạng “phải ăn khoai đồng rau núi”, trong tổng số 1 vạn quân xuất phát đã có trên 2.000 lính bị ốm, hơn 100 lính bỏ mạng. Lê Văn Đức, Nguyễn Công Trứ rút quân về tỉnh thành Tuyên Quang.
Tháng 12/1834, ba đạo quân triều đình từ Tuyên Quang (do Lê Văn Đức, Phạm Văn Điển chỉ huy), Cao Bằng (do Tạ Quang Cự, Nguyễn Tiến Lâm, Hồ Hựu chỉ huy, Thái Nguyên (do Nguyễn Đình Phổ, Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Thụy, Nguyễn Tiến Lâm chỉ huy) tiến đến bao vây Vân Trung. Triều đình còn điều thêm nhiều binh lính, voi chiến, thuyền chiến chở súng lớn, lương thảo từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương, Hà Nội tập trung tối đa lực lượng nhằm dập tắt cuộc khởi nghĩa.
Sau khi dẹp yên khởi nghĩa, triều đình càng nhận ra vị trí quan trọng của thành Tuyên Quang. Năm 1844, từ lời tâu của Nguyễn Đăng Giai, Tổng đốc Lê Đại Cương, tâu xin mở thêm rộng ra.Vua Thiệu Trị giao Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai và Lãnh binh Nguyễn Trọng Thao đôn đốc xây dựng Thành tỉnh Tuyên Quang: Hơn 2.000 binh lính từ Sơn Tây được huy động xây thành trong ba tháng mới xong. Từ đây ngôi thành mới còn thêm tên là thành Tuyên Quang.
Trước khi thực dân Pháp chiếm, Nhà Nguyễn cho sửa chữa, gia cố thêm thành một, xây bằng loại gạch nhỏ. Thành án ngữ bên bờ sông Lô, nằm trên trục giao thông thủy bộ thuận lợi. Địa hình và cấu trúc như vậy khiến cho thành trở nên một vị trí quân sự trọng yếu.
Thành là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử:
Tám tháng vây đánh quân Pháp
Khoảng Cuối năm 1883, theo Hiệp ước Hác măng (25/8/1883) ký với Pháp, triều đình Nhà Nguyễn cử quan lại hành chính tới các tỉnh Bắc Kỳ. Ở Tuyên Quang có tuần phủ Hoàng Tướng Hiệp, bố chánh Lê Văn Duyên, án sát Nguyễn Niệm, thông phán Nguyễn Trung Hội.
Đầu năm 1884, Hoàng Thủ Trung- một bộ tướng của Lưu Vĩnh Phúc đem 2.000 quân từ Hưng Hóa lên chiếm thành Tuyên Quang, bắn chết Nguyễn Trung Hội, bắt Hoàng Tướng Hiệp, Lê Văn Duyên chạy trốn. Sau khi lấy hết kho tàng sổ sách, Hoàng Thủ Trung rút quân, bỏ trống thành Tuyên Quang.
Ngày 31 tháng 5 năm 1884, đại tá Duysenơ chỉ huy quân Pháp từ Hưng Hóa theo đường thủy lên Tuyên Quang... Quân Pháp vào thành không gặp phải sự kháng cự nào. Duysenơ giao cho trung tá Đôminê chỉ huy 2 đại đội lê dương, 1 đại đội ngụy, 37 pháo thủ và công binh, đóng giữ thành, rút số quân còn lại về Hưng Hóa.
Trước cảnh quê hương, đất nước bị ngoại bang xâm chiếm, nhiều nông dân đã gia nhập nghĩa quân của Lãnh Chân, Đốc Thịnh và đoàn quân của Lưu Vĩnh Phúc. Trong khoảng thời gian ngắn quân số lên tới 1 vạn 5 nghìn. Hai lực lượng phối hợp thành Liên quân đánh Pháp.
Tháng 5 năm1884, Liên quân bắt đầu cuộc tấn công, liên tiếp nã đạn vào thành, đào những đường hầm sát tới tường thành, dùng thuốc nổ để công phá. Đồng thời chặn đánh các chiến thuyền tiếp viện của địch trên sông Lô đoạt lấy lương thực vũ khí.
Nhiều lần mìn nổ phá đổ một đoạn tường thành. Tuy nhiên hoả lực của Liên quân kém sức công phá, các đợt tấn công đều bị địch chặn lại.
Liên quân tiếp tục xiết chặt vây hãm, khiến hơn 600 bịnh lính và sĩ quan địch khốn đốn vì thiếu lương ăn, nước uống, bị sốt rét, kiết lỵ hoành hành. Sau tám tháng, từ tháng 5 năm1884 đến tháng 3 năm 1885 một phần ba lực lượng quân Pháp (hơn 200 tên) bị tiêu diệt, hầu hết sĩ quan và một nửa binh lính bị thương, nơn nớp chờ viện binh
Kết hợp đấu tranh vũ trang và chính trị buộc quân Nhật đầu hàng
Ngày 15/8/1945, trên đường đi dự Quốc dân Đại hội, Đồng chí Song Hào được giao nhiệm vụ chỉ huy khởi nghĩa giải phóng tỉnh lỵ Tuyên Quang. Uỷ ban khởi nghĩa của tỉnh được thành lập gồm các đồng chí Song Hào, Tạ Xuân Thu, Trần Thế Môn. Đêm 16/8/1945, quân Giải phóng, tự vệ địa phương tập kết tại đồn điền Châu Khiết. Lúc 2 giờ sáng ngày 17/8/1945 xuất quân, chia làm 2 mũi nhanh chóng đánh chiếm dinh tỉnh trưởng, trại bảo an, nhà bưu điện, sở kho bạc. Riêng thành Tuyên Quang quân Nhật còn đóng trại. Bị bao vây, quân Nhật xin được điều đình. Tuy nhiên khi biết đồng bọn từ Hà Giang về quân Nhật trong thành trở mặt, bắn pháo, đại liên bắn vào các khu phố làm chết 2 tự vệ và 3 người dân. Kiên quyết đập tan âm mưu của địch, ngày 20/8/1945 một đơn vị quân Giải phóng cấp tốc hành quân cản đường cánh quân Nhật từ Hà Giang xuống. Đồng thời tập trung lực lượng mở đợt tấn công vào thành và tổ chức đông đảo quần chúng tuần hành thị uy rầm rộ. Liên tục bị tấn công cả về quân sự và chính trị, ngày 21/8/1945 quân Nhật buộc phải đầu hàng.
Ngày 24/81945, hàng vạn nhân dân tham gia mít tinh do Uỷ ban khởi nghĩa tổ chức. Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời của tỉnh Tuyên Quang tuyên bố thành lập.
Hai lần chứng kiến quân Pháp thất bại
Tháng 5/1949, Bộ chỉ huy Pháp mở cuộc hành quân Pô-môn đánh lên Phú Thọ -Tuyên Quang hòng phá hoại hậu phương kháng chiến và đỡ đòn cho hướng Tây Bắc. Địch huy động vào cuộc hành quân 2.600 binh lính gồm bộ binh, pháo binh, công binh, cả thuỷ quân, quân dù và một phi đội không quân. Địch hành quân bằng cơ giới đến Đoan Hùng, rẽ quốc lộ 70 qua Tây Cốc sang phà Hiên, đánh vào thị xã Tuyên Quang từ hướng tây. Chúng đóng quân các cao điểm nhà thờ, Thổ Sơn.
Bộ Chỉ huy chiến dịch Sông Lô được thành lập gồm các tướng Bằng Giang, Vương Thừa Vũ, Lâm Kính. Quân dân ta phục kích đánh địch trên các nẻo đường Trung Môn, Ỷ La, đường Hiên. Pháo binh từ các vị trí Ghềnh Quýt, Tràng Đà, làng Giao bắn vào quân địch trong thành.
Bị bao vây, tấn công từ nhiều phía, sau ba tuần chiếm đóng thị xã Tuyên Quang, giữa tháng 5/1949, mặt trận Sông Thao mở màn, địch vội vã rút quân.
Di tích thành Tuyên Quang được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia theo Quyết định số 1548, ngày 30/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin - Thể thao và Du lịch.
Ban Biên tập