Lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX là một bản anh hùng ca về ý chí độc lập, tự chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Trong dòng chảy đó, quyết định di chuyển trung tâm lãnh đạo từ Pắc Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) của lãnh tụ Hồ Chí Minh vào tháng 5/1945 không chỉ là một cuộc hành quân đơn thuần, mà là một bước ngoặt chiến lược, thể hiện tư duy thiên tài và tầm nhìn xa trông rộng của Người, trực tiếp quyết định sự thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám.
Sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, chọn Pác Bó làm nơi đặt đại bản doanh. Tại lán Khuổi Nặm, Người đã chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941), xác định nhiệm vụ: Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của cách mạng; đồng thời quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Người cũng chỉ rõ: Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra nhiều triển vọng lớn lao cho cách mạng nước ta… Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Bắc Kạn (nay thuộc tỉnh Thái Nguyên), Thái Nguyên, Tuyên Quang và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc. Có nối phong trào với Thái Nguyên, Tuyên Quang và toàn quốc khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ.

Lán Nà Nưa – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc từ cuối tháng 5/1945 đến ngày 22/8/1945 để chuẩn bị và lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945
Đầu tháng 5/1945, chiến tranh thế giới thứ 2 bước vào giai đoạn kết thúc ở Châu Âu. Ở Châu Á, phát xít Nhật bị đẩy vào thế bị bao vây và bị uy hiếp từ bốn phía. Tình thế có lợi cho cách mạng Việt Nam tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đang tới gần. Trước diễn biến nhanh chóng của tình hình thế giới và trong nước theo chiều hướng có lợi cho cách mạng Việt Nam. Để tiện lợi cho việc chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, nắm thời cơ tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp: Cần chọn ngay trong vùng Cao - Bắc - Lạng hoặc Tuyên Quang một địa điểm có dân tốt, cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, có thể thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và ra nước ngoài.
Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp về Kim Quan Thượng (thuộc xã Tân Trào) cùng Ban lãnh đạo Phân khu B - Nguyễn Huệ gồm các đồng chí: Song Hào, Tạ Xuân Thu, Lê Dục Tôn, Lê Trung Đình... sau khi khảo sát thực tế vùng dọc bờ sông Đáy thuộc xã Tân Trào và trao đổi thống nhất nhận định: Vùng Ao Búc, Thanh La cũng như Tân Trào đều là những cơ sở vững. Tuy nhiên, nhìn vào địa hình thì thấy xã Tân Trào (tên cũ là Kim Long) là nơi có thuận lợi hơn vì đây là nơi dễ cơ động, tiến lên, lui xuống, sang trái, sang phải đều có thể đi cả bốn hướng. Đường liên lạc về xuôi cũng thuận lợi và quyết định chọn vùng Tân Trào làm căn cứ trung tâm lãnh đạo của Trung ương và lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Trước khi xuất phát, Bác Hồ thành lập Tiểu đội Cận vệ đặc biệt, tổ chức huấn luyện quân sự và phổ biến các hiệu lệnh bí mật bằng còi: 3 hồi dồn dập là báo gặp địch để phân tán, 2 hồi thư thả là báo yên để tập hợp. Người cũng căn dặn toàn đoàn phải giữ bí mật tuyệt đối, hành động kịp thời, mau lẹ và tránh đụng độ không cần thiết để bảo toàn lực lượng.
Khoảng 9 giờ sáng ngày 04/5/1945, Bác Hồ và đoàn công tác xuất phát từ lán Khuổi Nặm thuộc Pác Bó (Cao Bằng) theo con đường Nam tiến mà người đã chỉ ra cho đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân trước đó: Pác Bó - Bản Nưa (xã Đào Ngạn-nay là xã Ngọc Đào, tỉnh Cao Bằng) - Bản Bó Phia (Lam Sơn). Tối ngày 05/5/1945, Bác Hồ và đoàn dừng lại nghỉ ở Lam Sơn (Cao Bằng) đến hết ngày 08/5/1945 để nắm tình hình và làm việc với các đồng chí: Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Vũ Anh, Đặng Văn Cáp...
Ngày 9/5/1945, đoàn rời Lam Sơn tiếp tục cuộc hành trình, đi cùng có đồng chí Đặng Văn Cáp được giao nhiệm vụ phụ trách Tiểu đội Cận vệ đặc biệt. Khi qua bản Pác Phiêng, xã Hoàng Tung (nay thuộc phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng), Nhân dân biết có đoàn cán bộ đi qua đã cử đại diện ra chúc đoàn đi đường bình an, gặp nhiều may mắn và tặng đoàn những món quà đặc sản của đồng bào Tày như bánh khảo, chè lam... Bác Hồ dừng lại ít phút nói chuyện và cảm ơn bà con. Sau đó đoàn qua Bó Lếch ra ngã ba Bản Tấn. Buổi trưa, đoàn nghỉ ở bản Khuổi Lầy, xã Thịnh Vượng, huyện Nguyên Bình (nay là xã Bạch Đằng, tỉnh Cao Bằng). Đến đây, đồng chí Đặng Văn Cáp được lệnh trở lại Lam Sơn để tiếp tục xây dựng xưởng sản xuất vũ khí. Đoàn tiếp tục qua bản Khuổi Lầy (xã Bạch Đằng, tỉnh Cao Bằng), bản Lũng Sao, bản Hoàng Phài (nay thuộc xã Thượng Bằng, tỉnh Thái Nguyên), Khuổi Mản, xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể (nay thuộc xã Phúc Lộc, tỉnh Thái Nguyên), bản Hon, Chợ Rã, huyện Ba Bể (nay thuộc xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên), bản Chang, xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn (nay thuộc xã Chợ Rã, tỉnh Thái Nguyên), bản Cỏi, xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn (nay thuộc xã Đồng Thắng, tỉnh Thái Nguyên), bản Tủm Tó, xã Bằng Lãng, huyện Chợ Đồn (nay thuộc xã Chợ Đồn, tỉnh Thái Nguyên).
Ngày 17/5/1945, đoàn rời bản Tủm Tó khoảng 4 giờ sáng, chiều hôm đó tới Nà Kiên, xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn (nay thuộc xã Lương Bằng, tỉnh Thái Nguyên). Thời điểm này, đồng chí Võ Nguyên Giáp đang ở đây, được tin Bác Hồ và đoàn cán bộ từ Cao Bằng xuống đã vội đi đón. Nghĩa Tá cũng là vùng cơ sở vững vàng, Bác Hồ và đoàn nghỉ tại đây 3 ngày (17, 18 và 19/5/1945).
Ngày 20/5/1945, đoàn rời Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên) tiếp tục hành quân sang Tuyên Quang, cùng đi với Đoàn có đồng chí Võ Nguyên Giáp. Buổi trưa nghỉ ăn cơm tại thôn Pác Hóp, xã Linh Phú (nay là xã Tri Phú, tỉnh Tuyên Quang) rồi qua bản Pình, bản Pài, xã Trung Minh (nay là xã Trung Sơn, tỉnh Tuyên Quang). Đêm 20/5/1945, Bác Hồ và đoàn nghỉ tại Bản Coóc, xã Hùng Lợi (nay thuộc xã Hùng Lợi, tỉnh Tuyên Quang).
Ngày 21/5/1945, đoàn đi theo hướng xuôi dòng sông Phó Đáy qua làng Chạp, xã Trung Sơn (nay thuộc xã Trung Sơn, tỉnh Tuyên Quang), làng Nhà, xã Kim Quan (nay thuộc xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang), Trung Yên (nay thuộc xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang), vượt đèo Chắn, xã Thanh La, huyện Sơn Dương (nay thuộc xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang) đến xã Hồng Thái (nay thuộc xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang). Các đồng chí phụ trách Phân khu ủy Phân khu Nguyễn Huệ: Song Hào, Tạ Xuân Thu... tổ chức đón Bác Hồ và đoàn ở đình Hồng Thái.
Hình ảnh của Bác Hồ theo lời của đồng chí Song Hào: Đi đầu đoàn người là một đồng chí có tuổi mặc áo chàm, dáng người mảnh dẻ, khuôn mặt xương xương, nước da rám nắng, chòm râu đen nhánh lưa thưa. Đồng chí bước đi thoăn thoắt, chiếc mũ dạ đen đội đầu, mảnh khăn mặt trắng vắt vai, tay cầm một chiếc gậy nhỏ. Bác bước vào đình Hồng Thái nhìn bao quát khung cảnh và các đồng chí xung quang vẻ rất hài lòng. Bác thăm hỏi ân cần về sức khỏe của mọi người rồi hỏi kỹ về tình hình phong trào của địa phương. Bác dừng chân ở Đình Hồng Thái chừng một tiếng rồi quyết định đến Tân Trào ngay trong ngày. Lúc Bác Hồ đến Tân Trào đã bắt đầu mùa lũ, nước sông Phó Đáy cuồn cuộn, các đồng chí trong ban Việt Minh đã được báo trước có đoàn cán bộ thượng cấp đi qua nên đã chuẩn bị một số mảng để đoàn qua sông.
Ngày 21/5/1945, Bác Hồ cùng đoàn cán bộ đến thôn Tân Lập, xã Tân Trào, kết thúc cuộc hành trình Pác Bó - Tân Trào. Cuộc hành trình bắt đầu ngày 04/5/1945 từ lán Khuổi Nặm trải hơn 400km đường rừng, qua 10 huyện của 3 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên), Tuyên Quang, trèo đèo lội suối, vượt qua đỉnh núi quanh năm mây phủ, có nơi chưa có vết chân người, 13 điểm ngủ qua đêm trên chặng đường dài có lúc gặp địch, tình huống nguy hiểm. Về đến Tân Trào, lãnh tụ Hồ Chí Minh ở và làm việc tại nhà ông Nguyễn Tiến Sự là Chủ nhiệm Việt Minh với thời gian khoảng 1 tuần. Sau đó Bác chuyển lên ở trong căn lán nhỏ, đơn sơ bên sườn đồi thuộc khu rừng Nà Nưa cách làng Tân Lập hơn 1km về phía Đông dãy núi Hồng để giữ bí mật và tiện làm việc. Căn lán do nhân dân địa phương cùng các đồng chí cảnh vệ làm cho Bác, cột lán làm bằng cây gỗ rừng, phần còn lại làm bằng tre, nứa mái lợp bằng lá gồi. Lán được ngăn thành 2 gian nhỏ, một bên nơi Bác Hồ nghỉ, một bên vừa là chỗ làm việc, đọc sách báo, vừa là chỗ để tiếp khách. Xung quanh cạnh lán của Bác Hồ còn có lán đặt điện đài và lán của các đồng chí cảnh vệ.
Như vậy, với địa thế chiến lược để tiến có thể đánh, lui có thể giữ, có đường giao thông liên lạc thuận tiện, từ Tuyên Quang có thể dễ dàng lui về Bắc Kạn (nay là tỉnh Thái Nguyên), Cao Bằng, Thái Nguyên, sang Yên Bái (nay là tỉnh Lào Cai), lên Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang), khi Nam tiến cũng rất dễ dàng mở rộng xuống Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc (nay là tỉnh Phú Thọ), là địa phương có đầy đủ các yếu tố cần thiết của một căn cứ chiến lược, cơ động, vững chắc trong chiến tranh giải phóng. Hơn nữa đây là địa phương có cơ sở cách mạng sớm, phong trào cách mạng quần chúng phát triển mạnh mẽ với thắng lợi của khởi nghĩa Thanh La (10/3/1945) đưa đến sự thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ở các châu, huyện vào tháng 5/1945. Tuyên Quang đáp ứng tốt điều kiện để tự cấp, tự túc về lương thực, hậu cần thiết yếu cho lực lượng cách mạng. Có thể thấy, nơi đây là địa phương hội đủ các yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” cho căn cứ cách mạng.
Do vậy việc chuyển địa điểm hoạt động từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy kiệt xuất của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Để lại nhiều bài học vô giá về nghệ thuật chợp thời cơ trong cách mạng, sự nhạy bén trong việc đánh giá tình hình quốc tế để chuyển dịch địa bàn hoạt động cho thấy tầm quan trọng của việc "biết mình, biết ta" và chớp thời cơ trong lãnh đạo; bài học về dựa vào dân, mọi thắng lợi đều bắt nguồn từ lòng dân, sự chở che của đồng bào các dân tộc trong suốt hành trình là minh chứng rằng "dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong"; bài học về nêu gương, người lãnh đạo phải là người tiên phong, chịu gian khổ cùng đồng đội, kỷ luật nghiêm minh nhưng vẫn ân cần, gần gũi.
Ngày nay, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, tinh thần Tân Trào và tầm nhìn Hồ Chí Minh vẫn là kim chỉ nam cho mọi hành động. Chúng ta cần phát huy ý chí tự lực tự cường, sự sáng tạo trong tư duy và đặc biệt là sự gắn bó máu thịt với nhân dân để xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.
Đức Nguyễn