.jpg)
Thường trực Tỉnh ủy làm việc với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy
Góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã được các cấp uỷ, tổ chức đảng trong Đảng bộ tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc. Kết quả cụ thể: Tỉnh Tuyên Quang (trước sáp nhập): Cấp ủy huyện và cơ sở kiểm tra 01 tổ chức đảng và 147 đảng viên (có 50 cấp ủy viên), thi hành kỷ luật 01 tổ chức đảng, 100 đảng viên. Cấp ủy các cấp kiểm tra 3.870 tổ chức đảng và 4.180 đảng viên (có 878 cấp ủy viên các cấp), thi hành kỷ luật 12 đảng viên. Ban Thường vụ Tỉnh ủy thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng 04 đảng viên, khiển trách 01 đảng viên. Cấp huyện và cấp cơ sở thi hành kỷ luật 713 đảng viên (có 152 cấp ủy viên các cấp). Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra 43 tổ chức đảng và 446 đảng viên (có 198 cấp ủy viên các cấp). Cấp ủy các cấp đã tiến hành giám sát 3.113 tổ chức đảng và 4.312 đảng viên. Tỉnh Hà Giang (trước sáp nhập): Thực hiện 70 cuộc kiểm tra đối với 20 tổ chức đảng và 102 đảng viên, có 42 cấp ủy viên.; 11 tổ chức đảng, 63 đảng viên vi phạm phải xem xét, xử lý kỷ luật; 297 tổ chức đảng và 677 đảng viên thực hiện chưa tốt các nội dung được kiểm tra; 02 tổ chức đảng và 57 đảng viên vi phạm phải thi hành kỷ luật. cấp ủy các cấp đã tiến hành giám sát 11.058 cuộc đối với 2.498 tổ chức đảng và 12.006 đảng viên. Sau kiểm tra, giám sát đã kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Công tác kiểm soát tài sản, thu nhập được chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện kịp thời, đúng quy định. Công tác xây dựng ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đảng được quan tâm. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát được nâng lên, kỷ luật, kỷ cương được tăng cường, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh.

Đoàn công tác số 9 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ do đồng chí Trần Mạnh Lợi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh uỷ làm Trưởng đoàn khảo sát, kiểm tra sau sáp nhập tại xã Quảng Nguyên
Đổi mới, nâng cao hiệu quả
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 26-NQ/TU, ngày 26/11/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xác định quan điểm kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa "xây và chống", "lấy xây là chính", chuyển trọng tâm sang công tác phòng ngừa, cảnh báo vi phạm và nguyên tắc xử lý kỷ luật “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” để đảm bảo tính răn đe, giáo dục được xác định. Đồng thời, đề ra các mục tiêu cụ thể bao gồm: Trong nhiệm kỳ 2025-2030, tỷ lệ tổ chức đảng và đảng viên là cấp uỷ viên các cấp được kiểm tra, giám sát phải đạt 30% trở lên. Hằng năm, Ban thường vụ các đảng uỷ trực thuộc Tỉnh ủy và tương đương phải thực hiện tối thiểu 02 cuộc kiểm tra, giám sát (01 cuộc kiểm tra, 01 cuộc giám sát chuyên đề). Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy hằng năm thực hiện tối thiểu 03 cuộc kiểm tra, giám sát (01 cuộc kiểm tra, 02 cuộc giám sát chuyên đề). Bảo đảm 100% cấp uỷ, ủy ban kiểm tra các cấp xây dựng Chương trình kiểm tra, giám sát toàn khoá và Kế hoạch hằng năm. Phấn đấu hằng năm có 98% trở lên ủy ban kiểm tra các đảng uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. 100% cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát các cấp được tập huấn nghiệp vụ ít nhất 01 lần trong nhiệm kỳ. 100% hồ sơ các cuộc kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ 2025-2030 được chỉnh lý, cập nhật số hoá...
Để đạt được quan điểm và các mục tiêu trên, Nghị quyết số 26-NQ/TU, ngày 26/11/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đề ra 07 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện, bao gồm: (1) Nâng cao nhận thức và hành động của các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng: Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là các văn bản mới, nội dung chỉ đạo mới của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đến cán bộ, đảng viên… Tuyên truyền, phổ biến cách làm hay, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản theo thẩm quyền để cụ thể hoá, triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng… (2) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, chủ trương, chính sách mới, quan trọng của Đảng, Nhà nước, các lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực: Kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chương trình hành động, các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá, chỉ tiêu chủ yếu trong nghị quyết đại hội đảng cấp mình và cấp trên đề ra. Chú trọng kiểm tra, giám sát các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, như: Quản lý, sử dụng tài sản, trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị sau hợp nhất, sáp nhập; quản lý và sử dụng đất, tài nguyên, khoáng sản; quản lý quy hoạch trật tự xây dựng; quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, kinh phí dịch vụ môi trường rừng; công tác cán bộ; tài chính; đầu tư xây dựng cơ bản; mua sắm tài sản công; cải cách hành chính. (3) Phát huy vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của ủy ban kiểm tra: Ủy ban kiểm tra các cấp chủ động rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, văn bản chỉ đạo của Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát được cụ thể hóa, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, theo đúng thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ và phù hợp với tình hình thực tiễn; thực hiện toàn diện các nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp uỷ giao. Chủ động tham mưu cấp uỷ và thực hiện theo thẩm quyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; nắm chắc tình hình, phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm để tham mưu cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành kiểm tra làm rõ, xử lý nghiêm minh ; kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng làm tốt công tác tổng hợp, thông tin, tuyên truyền về các vi phạm mang tính phổ biến, điển hình sau kiểm tra, giám sát, điều tra, thanh tra,... để góp phần ngăn ngừa, cảnh báo vi phạm. (4) Thực hiện hiệu quả công tác phối hợp giữa kiểm tra, giám sát của Đảng với kiểm tra, thanh tra của Nhà nước; giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tư pháp: Phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với kiểm tra, thanh tra của cơ quan Nhà nước, giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy chủ trì việc tổng hợp, điều phối kế hoạch kiểm tra, giám sát, thanh tra hằng năm của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, bảo đảm thống nhất, không chồng chéo, trùng lặp, tránh gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức, đơn vị được kiểm tra, giám sát, thanh tra. (5) Xử lý nghiêm minh tổ chức đảng, đảng viên vi phạm: Thực hiện nghiêm các quy định về thi hành kỷ luật đảng. Tổ chức đảng, đảng viên vi phạm phải được xem xét, xử lý kịp thời, kiên quyết, đồng bộ, nghiêm minh theo quy định. Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết; nếu làm thất thoát tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường theo quy định. Thực hiện tốt việc phối hợp, trao đổi thông tin trong thi hành kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đảm bảo việc xem xét, xử lý kỷ luật phải kịp thời, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể. (6) Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng: Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, gắn với đổi mới lề lối, phương pháp làm việc để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đổi mới chế độ thông tin, báo cáo, từng bước thực hiện “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”, trước mắt là công tác kiểm tra, giám sát việc công khai, kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ diện cấp uỷ quản lý. Nghiên cứu ban hành Đề án tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho ngành kiểm tra, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số của ngành kiểm tra Đảng. (7) Quan tâm củng cố, kiện toàn ủy ban kiểm tra, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên nghiệp: Thường xuyên củng cố, kiện toàn, xây dựng cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao chất lượng quy hoạch, tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ ủy ban kiểm tra; thực hiện tốt các chủ trương, quy định về luân chuyển cán bộ ủy ban kiểm tra. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác kiểm tra có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực thực tiễn, tinh thông nghiệp vụ, có kỹ năng xử lý tình huống nhất là các vấn đề mới, khó phát sinh trong thực tiễn; đồng thời thực hiện tốt các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thực thi nhiệm vụ.
Nghị quyết số 26-NQ/TU thể hiện quyết tâm cao của Tỉnh ủy Tuyên Quang trong việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, coi công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên, toàn diện để xây dựng Đảng bộ tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030.
Lê Hải – Ban TGDV Tỉnh uỷ