Tiềm năng, thế mạnh nổi trội về nông, lâm nghiệp
Việc mở rộng địa giới hành chính đã mang lại cho tỉnh Tuyên Quang quỹ đất nông nghiệp và lâm nghiệp lớn, hệ sinh thái đa dạng, khí hậu phân hóa theo tiểu vùng, rất thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, chất lượng cao. Toàn tỉnh hiện có diện tích gieo trồng cây hàng năm khoảng 207 nghìn ha, trong đó diện tích lúa trên 80 nghìn ha, ngô gần 73 nghìn ha, bảo đảm vững chắc nguồn lương thực chủ yếu cho nhân dân. Tổng sản lượng lương thực có hạt đến năm 2025 đạt khoảng 78 vạn tấn, bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ.
Sản phẩm Chè Shan tuyết Hồng thái được công nhận đạt chứng nhận OCOP 4 sao vào năm 2020
Cùng với cây lương thực, tỉnh đã phát huy tốt lợi thế để phát triển các cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như chè, cam, cây dược liệu, cây ăn quả đặc sản. Diện tích chè toàn tỉnh đạt khoảng 27,5 nghìn ha, sản lượng trên 160 nghìn tấn mỗi năm; cam sành ổn định khoảng 8,5 nghìn ha với sản lượng 120 nghìn tấn. Nhiều giống cây trồng bản địa quý hiếm như lúa Tẻ nương, Khẩu Mang, Già Dui, nếp đặc sản vùng cao đã được phục tráng, thương mại hóa, góp phần nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập cho người dân.
Chăn nuôi và thủy sản tiếp tục phát triển theo hướng an toàn sinh học, gắn với lợi thế từng vùng. Tổng đàn lợn đạt khoảng 1,81 triệu con, đàn gia cầm gần 37 triệu con; các giống bản địa như bò vàng, lợn đen được bảo tồn và phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Lợi thế mặt nước lòng hồ thủy điện Na Hang, Lâm Bình, Bắc Mê được khai thác hiệu quả để phát triển nuôi cá lồng, với các loài cá đặc sản có giá trị kinh tế cao như cá Tầm, cá Lăng, cá Chiên, cá Bỗng, sản lượng thủy sản đạt trên 88 nghìn tấn, giá trị sản phẩm thu được bình quân một héc ta chuyên nuôi thủy sản đạt 120 triệu đồng.
Đặc biệt, kinh tế lâm nghiệp đã trở thành trụ cột quan trọng của nông nghiệp tỉnh. Tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 60%, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC đạt trên 89 nghìn ha, đứng đầu cả nước. Đây là lợi thế chiến lược để phát triển công nghiệp chế biến gỗ, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa nguồn nước và giảm thiểu rủi ro thiên tai – những yếu tố then chốt của an ninh lương thực lâu dài.
Tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả và tính bền vững
Một trong những điểm sáng của nông nghiệp Tuyên Quang là việc hình thành các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn, gắn với liên kết chuỗi giá trị. Tỉnh đã hình thành rõ nét các vùng sản xuất chuyên canh quy mô lớn, gắn với chỉ dẫn địa lý và thương hiệu sản phẩm, cụ thể: Vùng Cam sành với diện tích ổn định 5.000 ha tập trung tại các xã Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Hàm Yên, Đồng Yên,.... được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP; vùng Chè Shan tuyết cổ thụ hữu cơ tại các xã Hoàng Su Phì, Xín Mần, Cao Bồ, Na Hang, Lâm Bình, phường Hà Giang 1; vùng lúa đặc sản chất lượng cao (như lúa Già Dui, Khẩu Mang, nếp cái hoa vàng),...; vùng trồng dược liệu dưới tán rừng và vùng trồng gỗ nguyên liệu rộng lớn. Toàn tỉnh hiện quản lý 788 mã số vùng trồng với diện tích trên 7.600 ha, cùng 12 chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.
Hợp tác xã Sản xuất Chế biến Thực phẩm an toàn Sáng Nhung là một đơn vị đi đầu trong lĩnh vực nông nghiệp sạch tại Tuyên Quang
thống hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, với hơn 900 hợp tác xã, với tổng số trên 15.000 thành viên và hàng trăm chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn. Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm" (OCOP) phát triển sâu rộng, với 192 chủ thể OCOP là các hợp tác xã với 652 sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong đó có 12 chỉ dẫn địa lý, nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn 3-4 sao, vươn ra thị trường lớn, đã khơi dậy tiềm năng bản địa, góp phần nâng cao thu nhập và bảo đảm nguồn cung thực phẩm đa dạng, an toàn cho thị trường.
Công nghiệp chế biến nông, lâm sản từng bước được đầu tư đồng bộ, với sự hiện diện của các nhà máy quy mô lớn, công nghệ hiện đại trong chế biến gỗ, chè, giấy, dược liệu. Đây là khâu then chốt để nâng cao giá trị gia tăng, giảm tổn thất sau thu hoạch, đồng thời tạo nền tảng dự trữ và điều tiết nguồn cung lương thực, thực phẩm trong các tình huống bất thường. Trên địa bàn tỉnh đã có sự hiện diện của nhiều nhà máy chế biến quy mô lớn, công nghệ hiện đại như Nhà máy bột giấy và giấy An Hòa, các nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu của Tập đoàn Woodsland, các nhà máy chế biến chè, dược liệu, hoa quả. Các ngành hàng chủ lực như chè, gạo, tinh bột sắn, thịt và rau quả tiếp tục được mở rộng quy mô, từng bước đáp ứng nhu cầu trong tỉnh và phục vụ xuất khẩu. Các cơ sở chế biến, bảo quản nông sản sau thu hoạch quy mô vừa và nhỏ, hợp tác xã, tổ hợp tác được khuyến khích phát triển, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch và sơ chế, đóng gói sản phẩm tại chỗ. Hệ thống tiêu thụ nông sản được đa dạng hóa, kết hợp giữa kênh truyền thống (chợ, siêu thị) và kênh hiện đại (thương mại điện tử, sàn giao dịch nông sản); tỉnh tích cực hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng thương hiệu, tem truy xuất nguồn gốc, tham gia các hội chợ xúc tiến thương mại trong và ngoài nước; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, nông sản qua các cửa khẩu ước đạt 500 triệu USD vào năm 2025, với các mặt hàng chủ lực như chè, tinh bột sắn, gỗ ván bóc, hoa quả.
Giải pháp bảo đảm an ninh lương thực trong thời gian tới
Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, bảo đảm an ninh lương thực không chỉ là vấn đề kinh tế mà đã trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn trực tiếp với ổn định xã hội, quốc phòng – an ninh và phát triển bền vững. Phát huy những tiềm năng, thế mạnh đã có, để bảo đảm an ninh lương thực bền vững, tỉnh Tuyên Quang cần tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện quy hoạch tích hợp, tổ chức lại không gian sản xuất nông, lâm nghiệp phù hợp với quy mô tỉnh mới; kiên quyết bảo vệ diện tích đất lúa cần thiết, đồng thời cho phép chuyển đổi có kiểm soát những diện tích kém hiệu quả sang cây trồng, vật nuôi có giá trị cao hơn.
Thứ hai, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp; chú trọng bảo tồn và phát triển giống cây trồng, vật nuôi bản địa; mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Thứ ba, ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và lưu thông lương thực, nhất là hệ thống thủy lợi, kho dự trữ, logistics nông sản, giao thông kết nối vùng sâu, vùng xa, biên giới, bảo đảm người dân được tiếp cận lương thực đầy đủ trong mọi tình huống.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, xây dựng đội ngũ nông dân chuyên nghiệp; gắn phát triển sản xuất với bảo đảm an ninh dinh dưỡng, giảm suy dinh dưỡng trẻ em và cải thiện chất lượng bữa ăn cho nhân dân.
Thứ năm, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ tài nguyên đất, rừng, nước; chủ động phòng chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu; mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế để phát triển thị trường nông sản, qua đó củng cố vững chắc an ninh lương thực trong điều kiện hội nhập sâu rộng.
Với quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của nhân dân, tỉnh Tuyên Quang có đủ cơ sở để phát huy mạnh mẽ tiềm năng, thế mạnh nông, lâm nghiệp, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Lam Nguyễn