Đánh giá 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kãinh tế-xã hội; 10 năm và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030

Thứ Hai, ngày 9 tháng 2 năm 2026 - 12:11 Đã xem: 103

Về đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030:

Trong giai đoạn 5 năm 2021-2025 thực hiện Chiến lược, bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn thách thức nhiều hơn. Trong đó có tác động của 4 vấn đề lớn, đó là: 1- Đại dịch Covid-19; 2- Xung đột vũ trang ở Ucraina và khu vực Trung Đông, sự điều chỉnh chính sách thuế của các nước lớn, chiến tranh thương; 3- Thiên tai, bão lũ, sạt lở diễn ra với tần suất cao, cường độ mạnh; 4- Sự cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã phòng, chống, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid 19, từng bước phục hồi nhanh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong 2 năm cuối nhiệm kỳ đã ban hành nhiều nghị quyết mang tính lịch sử, có ý nghĩa chiến lược, mở ra bước ngoặt lớn trong tiến trình phát triển của đất nước, nhất là cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đơn vị hành chính các cấp, tổ chức hoạt động chính quyền địa phương 2 cấp.

Kinh tế nước ta giai đoạn 2021-2025 đạt được nhiều thành tựu quan trọng, 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đạt và vượt, trong đó toàn bộ các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều vượt kế hoạch; riêng năm 2024 và 2025 đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu đề ra.

Văn kiện Đại hội đã đánh giá toàn diện các kết quả đạt được theo 10 nhóm nội dung, tôi xin khái quát, làm rõ một số kết quả nổi bật như sau:

Một là, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ở mức khá cao so với các nước trong khu vực và trung bình thế giới; chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2021 - 2025 khoảng 6,3%/năm1 - thuộc nhóm các nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất khu vực và thế giới và cao hơn nhiều so với mức bình quân 5,91%/năm giai đoạn 2011 2015 và 6,2%/năm giai đoạn 2016-2020.

Kinh tế tăng trưởng cao và liên tục đã giúp cho quy mô GDP và GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng nhanh: quy mô GDP tăng từ 346,6 tỷ USD (2020) lên trên 514 tỷ USD (2025), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD; GNI bình quân đầu người ước 4.700 USD, đưa Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Lạm phát được kiểm soát thành công, tỷ trọng nợ/GDP công giảm và thấp hơn nhiều giới hạn cho phép, bội chi ngân sách giảm2. Quy mô thương mại tăng mạnh, từ 545,4 tỷ USD năm 2020 lên mức kỷ lục trên 920 tỷ USD năm 2025, thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu thế giới; xuất siêu thương mại lớn, khoảng 21,2 tỷ USD. Niềm tin môi trường kinh doanh được cải thiện, nhất là sau khi Bộ Chính trị ban hành các Nghị quyết chiến lược, đặc biệt Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Không chỉ tăng trưởng ở mức cao, chất lượng tăng trưởng đã có sự cải thiện tích cực thông qua các chỉ số như tăng năng suất lao động, tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)3, nâng hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo quốc gia, tăng tỷ trọng kinh tế số

Các tổ chức quốc tế uy tín đã đánh giá cao kết quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng hạng tín nhiệm và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam.

Hai là, công tác phòng, chống dịch Covid-19 được thực hiện quyết liệt, hiệu quả gắn với thực hiện các biện pháp phục hồi và phát triển kinh tế.

Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo sát sao các chủ trương, chính sách, giải pháp khống chế, đẩy lùi dịch bệnh, trong đó có những giải pháp "chưa từng có"; thực hiện "mục tiêu kép", vừa tập trung phòng, chống, kiểm soát dịch bệnh, vừa duy trì sản xuất, chống đứt gãy chuỗi cung ứng; và dần phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội đã hỗ trợ khoảng 105 nghìn tỷ đồng cho 1,4 triệu lượt người sử dụng lao động và 68,4 triệu lượt lao động, nhờ đó tăng trưởng GDP giai đoạn 2020-2021 ở mức 2,71%/năm, tăng trưởng năm 2022 đạt 8,54%, trở thành điểm sáng của kinh tế toàn cầu.

Ba là, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt kết quả tích cực; nền kinh tế bước đầu được cơ cấu lại theo hướng số hoá, xanh hoá, đa dạng hoá, tăng cường sức chống chịu, nâng cấp chuỗi giá trị dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ từ 78,6% (2020) lên 80,4% (2025), trong khi khu vực nông nghiệp giảm từ 12,7% xuống 11,6%. Kinh tế số duy trì tốc độ tăng trưởng 9-10%/năm, chiếm khoảng 14-15% GDP. Bên cạnh đó, cơ cấu lại các lĩnh vực trọng tâm của nền kinh tế như về thể chế về đầu tư công, sách về đổi mới, sắp xếp lại và nâng cao chất lượng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, về kinh tế tư nhân tiếp tục được hoàn thiện. Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng được tích cực triển khai, bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, từng bước áp dụng chuẩn mực quốc tế.

Bốn là, thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện và thực chất hơn.

- Về hoàn thiện, nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật được đổi mới theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Hệ thống pháp luật được rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh gắn với tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đối với các lĩnh vực trọng yếu, dễ phát sinh tiêu cực.

- Về phát triển nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 64,5% (2020) lên 70% (2025), trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ tăng từ 24,1% lên khoảng 29,2%. Phát triển nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đổi mới căn bản theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.

- Về phát triển kết cấu hạ tầng, đây là giai đoạn bứt phá với trên 3.000 km đường bộ cao tốc được hoàn thành, hai cảng biển cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Cái Mép - Thị Vải và các cảng hàng không trọng điểm, trong đó có Cảng hàng không quốc tế Long Thành (giai đoạn 1), được đầu tư đồng bộ. Hạ tầng điện, năng lượng, hạ tầng số và các công trình giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá, nông thôn tiếp tục được đầu tư, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Năm là, phát triển kinh tế - xã hội các vùng và liên vùng được chú trọng; Kinh tế biển được thúc đẩy, đạt nhiều kết quả tích cực; đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật.

Trong thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành 6 Nghị quyết vùng với các định hướng thúc đẩy hình thành các hành lang kinh tế, vùng động lực, cực tăng trưởng; nhiều dự án vùng được thực hiện. Hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế biển được quan tâm đầu tư; đã hình thành các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch gắn với chuỗi đô thị ven biển; đồng thời có chủ trương cho nghiên cứu xây dựng các khu thương mại tự do tại một số địa phương. Đô thị hóa trở thành động lực quan trọng của phát triển kinh tế - xã hội; đến năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 45%, chất lượng đô thị được nâng cao, hình thành các cực tăng trưởng và trung tâm đổi mới sáng tạo tại các đô thị lớn. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả nổi bật với khoảng 80% xã đạt chuẩn, 35% xã đạt chuẩn nâng cao và 10% xã đạt chuẩn kiểu mẫu.

Sáu là, phát triển văn hoá, xã hội và con người đạt nhiều kết quả tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng cao.

Chỉ số phát triển con người tiếp tục được cải thiện, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập; thứ hạng về thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững SDGs tăng lên6; Xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng từ thứ 83 năm 2020 lên thứ 46 năm 2025.

Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân được tăng cường. Tuổi thọ trung bình năm 2025 đạt 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm. Mạng lưới y tế phát triển rộng khắp, năng lực khám chữa bệnh được nâng cao; y tế dự phòng, y tế cơ sở và mô hình bác sĩ gia đình được củng cố; hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh được hình thành ở các cấp. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,2% năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống khoảng 1,3% năm 2025, đời sống nhân dân, nhất là ở vùng khó khăn, được cải thiện rõ rệt. Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh triển khai; đến năm 2025 cơ bản xoá nhà tạm, nhà dột nát.

Bảy là, công tác quản lý và sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai có chuyển biến tích cực.

Công tác điều tra, quy hoạch, quản lý và khai thác tài nguyên, quan trắc, đánh giá, giám sát chất lượng môi trường tiếp tục được tăng cường; hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường được đổi mới, hoàn thiện. Bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh được chú trọng. Công tác phòng, chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu, nhất là tại Đồng bằng sông Cửu Long, được quan tâm chỉ đạo.

Tám là, quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc; tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường trên nhiều mặt. Tiềm lực quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường toàn diện; an ninh chính trị được giữ vững. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đạt nhiều kết quả quan trọng. “Thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc.

Chín là, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục đi vào chiều sâu, hiệu quả, đạt nhiều thành tựu quan trọng, nổi bật. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước, trong đó quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 13 nước, đối tác chiến lược với 11 nước, đối tác toàn diện với 14 nước. Đối ngoại đa phương chuyển từ tham gia sang chủ động đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp tại các cơ chế hợp tác quan trọng để giải quyết các vấn đề chung của thế giới.

Mười là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được triển khai quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, đạt nhiều kết quả đột phá. Hệ thống pháp luật được rà soát, hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và khả thi. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện quyết liệt. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và thực hành tiết kiệm được tăng cường; nhiều vụ việc được xử lý nghiêm minh, góp phần củng cố kỷ cương, kỷ luật.

Bên cạnh đánh giá các kết quả đạt được, Đảng cũng đã làm rõ những hạn chế theo 7 nhóm, như sau:

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô còn bộc lộ nhiều hạn chế, khiến ổn định kinh tế vĩ mô chưa thật sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện. Năng suất lao động còn thấp so với các nước trong khu vực, cải thiện chậm. Thị trường tài chính - tiền tệ tiềm ẩn rủi ro; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp chưa phát huy vai trò kênh huy động vốn trung, dài hạn. Công nghiệp chủ yếu theo chiều rộng, gia công - lắp ráp chiếm tỷ trọng lớn; công nghiệp nền tảng, mũi nhọn và hỗ trợ phát triển chậm, liên kết FDI - nội địa yếu. Chất lượng dịch vụ chưa cao, sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế còn thấp. Nông nghiệp thiếu bền vững, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản chưa phát triển mạnh, nhất là ở khâu bảo quản và chế biến sâu. Đầu tư công chưa phát huy vai trò dẫn dắt; xử lý tổ chức tín dụng yếu kém còn khó khăn; cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước chậm; doanh nghiệp tư nhân trong nước quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, thiếu tập đoàn dẫn dắt."

Thứ hai, kết quả thực hiện 3 đột phá chiến lược còn hạn chế. Thể chế phát triển vẫn là điểm nghẽn lớn; tư duy xây dựng pháp luật chậm chuyển sang kiến tạo phát triển, nhất là với các mô hình kinh tế mới. Phân cấp, phân quyền chưa mạnh; thủ tục hành chính còn rườm rà, làm hạn chế huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực cải thiện chậm, thiếu lao động đáp ứng yêu cầu các ngành mũi nhọn, công nghệ cao và kinh tế số; đào tạo chưa gắn với nhu cầu thị trường; giáo dục kỹ năng, ngoại ngữ, sáng tạo còn bất cập. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực then chốt, thiếu nhân lực chất lượng cao. Kết cấu hạ tầng còn thiếu đồng bộ, hạ tầng giao thông, đô thị, hạ tầng số, hạ tầng điện, hạ tầng logistics còn chưa theo kịp yêu cầu phát triển; kết nối liên vùng yếu.

Thứ ba, tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế của các vùng còn thấp so với mục tiêu đề ra; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng và từng địa phương. Phát triển kinh tế biển và sử dụng không gian biển chưa hiệu quả, chưa hình thành các trung tâm kinh tế biển, khu kinh tế ven biển có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế. Tỉ lệ đô thị hoá còn thấp, tốc độ đô thị hoá chậm, chất lượng chưa cao.

Thứ tư, cơ chế, chính sách phát triển văn hoá còn có điểm bất cập, thiếu đồng bộ; đầu tư cho văn hoá hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng yêu cầu nhiệm vụ. Lao động phi chính thức còn lớn, thất nghiệp thanh niên cao. Bất bình đẳng tiếp cận dịch vụ xã hội giữa các vùng còn rõ nét. Dân số đối mặt mức sinh giảm, mất cân bằng giới tính khi sinh.

Thứ năm, tình trạng ô nhiễm môi trường tại cụm công nghiệp, lưu vực sông, làng nghề và môi trường biển chưa có nhiều chuyển biến. Chất lượng dự báo, cảnh báo thiên tai còn có mặt hạn chế; năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu chưa có bước cải thiện rõ rệt.

Thứ sáu, tham nhũng, tiêu cực trên một số lĩnh vực còn diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số triển khai chậm; nhiều dịch vụ công trực tuyến chưa thuận tiện.

Thứ bảy, quốc phòng, an ninh, công tác xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên một số lĩnh vực, địa bàn có mặt còn hạn chế. Mức độ tham gia, năng lực đóng góp và đề xuất sáng kiến của Việt Nam trong các khuôn khổ đa phương còn hạn chế, chưa đồng bộ giữa các lĩnh vực. Việc triển khai các thoả thuận, cam kết quốc tế còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo chiến lược có mặt còn chưa theo kịp diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình thế giới và khu vực.

Sau 5 năm đầu thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2021–2030), Đảng ta đã nghiêm túc, khách quan nhìn nhận, đánh giá đầy đủ các nguyên nhân cả khách quan và chủ quan đối với những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại; trong đó khẳng định nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trên cơ sở đó, Đảng đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm quan trọng nhằm thực hiện tốt hơn Chiến lược trong giai đoạn tiếp theo.

Thứ nhất: Tiếp tục đường lối đổi mới, có tầm nhìn chiến lược, tư duy đột phá, tạo ra nguồn lực và động lực cho phát triển. Nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của cả hệ thống chính trị; phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại.

Thứ hai: Nhất quán, kiên định về chiến lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; giữ bản lĩnh vững vàng; phân công, phân định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; nắm chắc tình hình, đề ra quyết sách linh hoạt, phù hợp, hiệu quả để lãnh đạo, chỉ đạo với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả; tổ chức thực hiện bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền.

Thứ ba: Tập trung nâng cao chất lượng thể chế phát triển, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tháo gỡ các điểm nghẽn cản trở phát triển. Bảo đảm tính nhất quán trong việc hiểu, áp dụng các quy định pháp luật. Tổ chức thực hiện pháp luật công bằng, nghiêm minh, kịp thời, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm thượng tôn hiến pháp và pháp luật. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thứ tư: Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng và hạnh phúc của Nhân dân, bảo đảm công khai, minh bạch. Khơi 7 dậy tinh thần cống hiến vì đất nước, phát huy ý chí tự lực, tự cường, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động và chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thứ năm: Làm tốt công tác đối ngoại, hội nhập, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, kịp thời tổng kết thực tiễn, đưa ra các cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2030 được xác định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Về bối cảnh, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, nhanh chóng, sâu sắc và khó dự báo, tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi đan xen với không ít khó khăn, thách thức lớn. Trong nước, chúng ta đang triển khai nhiều quyết sách chiến lược mang tính đột phá, đặt ra những vấn đề mới, yêu cầu mới ngày càng cao đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Đồng thời, đây cũng là bước ngoặt mới, vận hội mới mang tính lịch sử, mở ra thời cơ để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Về quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIV đã đề ra 5 nhóm quan điểm lớn, thể hiện tư duy phát triển mới, tầm nhìn chiến lược dài hạn, có nhiều nội dung bổ sung, phát triển quan trọng.

Một là, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh 4 kiên định: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định, kiên trì, kiên quyết các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đặc biệt, lần đầu tiên Đại hội nêu quan điểm mới: “Lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước”, đồng thời đặt ra yêu cầu về tự chủ chiến lược và đổi mới mô hình phát triển trong bối cảnh mới.

Hai là, Nghị quyết xác định đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gắn với chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả; coi phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Đây là lần đầu tiên bảo vệ môi trường được đặt ngang hàng với phát triển kinh tế – xã hội trong vai trò nhiệm vụ trung tâm, đồng thời đối ngoại, hội nhập quốc tế được nâng tầm thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Ba là, Đại hội xác định nhiều quan điểm mới, trong đó nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trở thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho phát triển; yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia làm động lực chính; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Cùng với đó là yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ các chuyển đổi lớn: chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển lực lượng sản xuất mới.

Bốn là, tiếp tục khẳng định quan điểm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy trí tuệ, bản lĩnh con người Việt Nam; chủ động, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc.

Năm là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển của Nhà nước; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Về mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển

Nghị quyết Đại hội XIV đề ra mục tiêu chung rất toàn diện, hướng tới đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Các mục tiêu này tập trung vào những thành tố cốt lõi: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững gắn với bảo vệ Tổ quốc; không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân; tăng cường tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.

Các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được cấu trúc thành 3 nhóm gồm: nhóm kinh tế, nhóm xã hội và nhóm môi trường, với tổng số 25 chỉ tiêu chủ yếu. Đây là những mục tiêu, chỉ tiêu được đặt ra ở mức cao, thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ, song có cơ sở khoa học và lộ trình thực hiện phù hợp. Tiêu biểu là mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026–2030 từ 10% trở lên, mức tăng chưa từng đạt được trong 40 năm đổi mới, thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn nhằm tránh nguy cơ tụt hậu, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tạo nền tảng cho sự bứt phá của đất nước.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đó, bám sát các quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIV đã đề ra 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược, đồng thời ban hành Chương trình hành động để cụ thể hóa, triển khai thực hiện ngay trong thực tiễn. Trọng tâm là tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững; xác lập mô hình tăng trưởng mới; đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển văn hóa, con người; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trong đó có nội dung đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm (2021–2030) và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026–2030, được đánh giá cao về tính khoa học, tính thực tiễn, khát vọng phát triển, tinh thần cầu thị và quyết tâm hành động. Quán triệt sâu sắc tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm: “Lựa chọn đúng – triển khai nhanh – làm đến nơi đến chốn – đo lường bằng kết quả”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm chung sức, đồng lòng, nỗ lực cao nhất để thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đại hội XIV đã xác lập.

BBT

CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG

Tổng số: 147 | Trang: 1 trên tổng số 15 trang  
Xem tin theo ngày:   / /