Dấu ấn trong công tác chuẩn bị Đại hội
Ngay sau chiến thắng Việt Bắc, Hội nghị Trung ương mở rộng họp từ ngày 15 đến ngày 17/01/1948 đã đặt vấn đề chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ II. Hội nghị cán bộ lần thứ sáu (tháng 01/1949) nêu rõ việc chuẩn bị Đại hội lần thứ II của Đảng với hai nội dung quan trọng: “một là, Trung ương chuẩn bị đề án cho kịp thời, có đề án riêng cho các chi bộ; hai là, các địa phương phải gửi báo cáo tình hình mọi mặt về Trung ương trước tháng 3-1949”. Trong Báo cáo của Hội nghị, Tổng Bí thư Trường Chinh khẳng định công việc chuẩn bị Đại hội II của Đảng là một trong những nhiệm vụ lớn và không thể chậm trễ. Đại hội có mục đích: “Sửa đổi chính cương, Điều lệ Đảng. Đúc kinh nghiệm toàn quốc về mọi mặt quân sự, dân vận, Đảng và định rõ nhiệm vụ của Đảng ta mọi mặt trong giai đoạn kháng chiến hiện tại”. Bế mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ việc trước hết phải làm là “chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy nó mà làm. Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng”.
Công việc chuẩn bị cho Đại hội được khẩn trương triển khai ngay sau chiến dịch Trung du. Để chuyển sang giai đoạn mới, Đảng ta đã có chủ trương củng cố bộ máy chính quyền và cuộc họp Hội đồng Chính phủ được triệu tập đúng ngày mồng 1 Tết Tân Mão (ngày 6-2-1951). Sáng sớm, trước cuộc họp, Bác Hồ sang chúc Tết các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và tặng mỗi người một tờ thiếp hồng có bài thơ Xuân của Người, như dự báo thời cơ quyết định đang tới:
“Xuân này kháng chiến đã năm xuân,
Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công.
Toàn dân hăng hái một lòng,
Thi đua chuẩn bị, tổng phản công kịp thời”.
Dấu ấn đặc biệt trong quá trình chuẩn bị Đại hội II của Đảng là Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi Đại hội trù bị với những ý kiến chỉ đạo ngắn gọn, súc tích không chỉ phản ánh tư tưởng chủ đạo và nội dung chính của Đại hội là “… Đại hội ta là đại hội kháng chiến. Nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”, mà còn chứng tỏ Người rất quan tâm đến thành công của Đại hội.
Hội trường nơi tổ chức Đại hội lần thứ II của Đảng tại xã Kim Bình.
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác chuẩn bị Đại hội II được tiến hành khoa học, chu đáo, cẩn trọng, thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của Đại hội II, một đại hội phải tập trung giải quyết nhiều vấn đề cấp bách như định lại chính cương, sách lược của Đảng, sửa đổi Điều lệ Đảng, bổ sung Ủy viên Trung ương Đảng, ấn định nhiệm vụ giai đoạn mới, đúc kinh nghiệm, thống nhất tư tưởng, hành động, v.v..
Dấu ấn trong đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
Đại hội lần thứ II của Đảng đã nhất trí thông qua “Chính cương”, “Điều lệ” của Đảng và Nghị quyết đưa Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Điều lệ của Đảng nhấn mạnh: “Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam”. Tại Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày Báo cáo chính trị nêu rõ những biến đổi của đất nước, thế giới, nêu lên những khó khăn của Đảng, Chính phủ và nhiệm vụ của đất nước trong tình hình mới. Về xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng ta thành tích khá nhiều, nhưng khuyết điểm cũng không ít. Chúng ta cần phải thật thà tự phê bình để sửa chữa. Phải cố sửa chữa để tiến bộ”. Người chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém của cán bộ, đảng viên, từ Trung ương đến địa phương như: “Ở các cơ quan lãnh đạo các cấp, về lề lối làm việc, về chủ trương và cách lãnh đạo còn có những khuyết điểm khá phổ thông và nghiêm trọng. Ấy là những bệnh chủ quan, quan liêu, mệnh lệnh, hẹp hòi và bệnh công thần”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng đã chỉ rõ nguyên nhân của những yếu kém: “Trong Đảng có những bệnh ấy và bệnh khác. Trung ương cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Vì Trung ương chưa chú trọng việc kiểm tra. Sự huấn luyện về chủ nghĩa tuy có, nhưng chưa được khắp, chưa được đủ. Dân chủ trong Đảng chưa được thực hiện rộng rãi. Phê bình và tự phê bình chưa thành nền nếp thường xuyên”.
Chỉ đạo tại Đại hội II của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh những vấn đề rất quan trọng: Xác định những biến chuyển của tình hình thế giới; các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam; sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm của Đảng; khẳng định vai trò, bản chất của Đảng; các nhân tố tạo nên sức mạnh nội lực của dân tộc. Về công tác lý luận của Đảng, tại Đại hội có nhiều ý kiến đề cập tới chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày rõ phương pháp vận dụng sáng tạo và áp dụng học thuyết này. Người nêu rõ: “Tôi thấy các đồng chí lên phát biểu ý kiến nhắc đến chủ nghĩa Mác luôn. Cái đó rất đúng. Nhưng mà nhắc đến chủ nghĩa Mác, phải áp dụng chủ nghĩa Mác cho đúng. Cốt yếu là ở đấy. Chủ nghĩa Mác là gì? Là cộng sản. Mà làm cộng sản thì ai lãnh đạo? Giai cấp công nhân… Nói chung toàn thế giới cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhưng quyền lãnh đạo không phải cứ nói “ta lãnh đạo đây, ta lãnh đạo đây” mà phải tranh đấu, huấn luyện, tổ chức mà tranh lấy”. Về tổ chức Đảng Cộng sản ở mỗi nước, theo đề nghị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, vào thời điểm đó trên cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương nên tổ chức ở mỗi nước một Đảng Cộng sản để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình.
Quang cảnh Đại hội II của Đảng tại Kim Bình. Ảnh tư liệu
Các văn kiện được trình bày tại Đại hội đều thể hiện dấu ấn, tư tưởng và công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Luận cương cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh đọc khẳng định Hồ Chủ tịch, Người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng. Báo cáo nêu lên nhiều phẩm chất cao quý, đức độ, tài năng, bản lĩnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là biểu tượng sáng ngời của đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nêu gương sáng về tinh thần kiên quyết đấu tranh, lòng trung thành rất mực với Đảng, với giai cấp và dân tộc. Đặc biệt, báo cáo nhấn mạnh bản lĩnh, trí tuệ và tư duy đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người dạy chúng ta mỗi khi tình hình đổi mới, điều kiện mới của cuộc vận động cách mạng đã đẻ ra, thì phải lập tức xét lại chủ trương, chính sách và phương pháp vận động, căn cứ vào tình hình mới mà định phương châm chiến lược và chiến thuật, không nên bám lấy những khuôn khổ cũ kỹ”.
Những chỉ đạo đó của Người, cho đến nay, vẫn còn nguyên giá trị được thể hiện xuyên suốt trong các kỳ đại hội của Đảng, nhất là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đại hội Đảng vẫn còn nguyên giá trị và soi sáng cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đại hội khẳng định quan điểm kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Với mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Lam Nguyễn