
Bác Hồ nói chuyện thân mật với Giáo sư, Bác sĩ Trần Hữu Tước (bên trái) - người sáng lập và xây dựng ngành Tai - Mũi - Họng Việt Nam và các trí thức ngành y (3/1964). Ảnh: TTXVN
Ngày 27/2/1955, trong “Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế,” Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở ngành Y nói chung và thầy thuốc nói riêng phải nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình. Người nhấn mạnh: “Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”[1]. Muốn chữa bệnh tận gốc thì không chỉ nhìn vào những vết thương bên ngoài, mà cần phải quan tâm cả những vấn đề tình cảm, tinh thần để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tháng 3/1948, trong “Thư gửi Hội nghị Quân y”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu”[2]. Để thực hiện được nhiệm vụ vẻ vang đó, Người đã đưa ra một số chỉ dẫn cho người thầy thuốc, cụ thể:
Phải thật thà đoàn kết, nêu cao tinh thần tập thể, thi đua học tập và công tác để tiến bộ không ngừng về chính trị, tư tưởng, về chuyên môn kỹ thuật. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết thì vượt được mọi khó khăn, giành được nhiều thành tích. Đoàn kết giữa cán bộ cũ và cán bộ mới. Đoàn kết giữa tất cả những người trong ngành y tế, từ các Bộ trưởng, Thứ trưởng, bác sĩ, dược sĩ cho đến các anh chị em giúp việc”[3]. Đoàn kết trong ngành Y là đòi hỏi vô cùng cấp thiết để tạo nên sức mạnh, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ vì sức khỏe con người.
Phải thương yêu người bệnh. Đây là điểm cốt lõi mà Người muốn nhắc nhở thầy thuốc. Người yêu cầu: Người thầy thuốc cần phải thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn, tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Cán bộ ngành y tế, từ bác sĩ đến nhân viên cần có thái độ nhã nhặn và có tinh thần phục vụ tốt Nhân dân. Tháng 6/1953, trong “Thư gửi Hội nghị Cán bộ y tế toàn quốc năm 1953,” Bác chỉ rõ: “Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh, để làm tròn nhiệm vụ ấy, cán bộ y tế (bác sỹ, y tá, những người giúp việc) cần phải: thương yêu người bệnh như anh em ruột thịt. Cần phải tận tâm tận lực phụng sự nhân dân. Lương y phải kiêm từ mẫu”[4] Có thể nói, lương tâm nghề nghiệp là cơ sở để hình thành những đức tính cần thiết của người thầy thuốc, là động lực thôi thúc người thầy thuốc tích cực học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình.
Ngoài ra, Người luôn căn dặn người thầy thuốc cần luôn luôn học tập nghiên cứu để luôn luôn tiến bộ, nhưng phải chú trọng cái gì thiết thực và thích hợp với hoàn cảnh kháng chiến; trau dồi tư tưởng và đạo đức của người cán bộ trong chế độ dân chủ: yêu nước, yêu dân, yêu nghề, đoàn kết nội bộ, thi đua học tập, thi đua công tác. Bên cạnh đó, ngành y tế cần chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy từ trên xuống dưới làm cho nó gọn gàng, hợp lý, ít tốn người tốn của mà làm được nhiều việc ích lợi cho Nhân dân; cần lựa chọn và đào tạo nhiều cán bộ mới trong số thanh niên nam nữ, dạy cho họ những công tác cần thiết trong Nhân dân, trong dân công ở vùng tạm chiếm và vùng rừng núi.
Tiếp đó, ngày 31/7/1967, trong “Thư khen cán bộ và nhân viên Quân y”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Luôn luôn ghi nhớ rằng người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền, hết lòng hết sức cứu chữa và phục vụ thương binh, bệnh binh, tích cực nâng cao sức khoẻ của bộ đội, góp phần cùng toàn quân, toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”[5].
Thực tế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao và dành tình cảm trân trọng đối với đội ngũ trí thức y bác sĩ làm việc trong ngành y tế. Người tin tưởng giao cho nhiều nhân sĩ, trí thức ngành y giữ các nhiệm vụ quan trọng trong Quốc hội, Chính phủ, phụ trách các bệnh viện, trường đại học… Đó là bác sĩ Nguyễn Vǎn Luyện, đại biểu Quốc hội khoá I, uỷ viên Ban thường trực Quốc hội, đã được vinh dự đứng trên lễ đài khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 và được tháp tùng phái đoàn Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu sang Pháp đàm phán tháng 5-1946. Đó là bác sĩ Vũ Đình Tụng một trí thức công giáo yêu nước, được Bác giao giữ nhiệm vụ giám đốc Nha y tế Bắc Bộ khi Cách mạng Tháng Tám thành công và Hội trưởng Hội Hồng thập tự nǎm 1946. Khi được tin người con trai cả của bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh trong những ngày đầu kháng chiến ở Hà Nội. Bác đã gửi cho bác sĩ Vũ Đình Tụng một bức thư chứa chan tình cảm: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột... Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam”. Bác Hồ rất quý trọng nhân tài, sử dụng đúng người, đúng chỗ, đúng việc. Bác biết bác sĩ Tôn Thất Tùng là nhà phẫu thuật có tiếng nên ngoài nhiệm vụ đào tạo cán bộ, bác sĩ Tôn Thất Tùng còn được giao các trọng trách: Thứ trưởng Bộ Y tế, cố vấn phẫu thuật Bộ Quốc phòng. Trong cuộc sống thường ngày, Bác luôn ân cần, hỏi thăm sức khoẻ “Thím Tùng và các cháu”.
Đáp lại tình cảm, sự tin tưởng đó của Người, một lực lượng đông đảo các y, bác sĩ đã cống hiến tài năng, trí tuệ, nhiệt huyết, tận tụy làm việc hết mình, thậm chí hy sinh cả hạnh phúc cá nhân vì sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp chăm lo bảo vệ sức khỏe con người. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước nhà độc lập, các trí thức Việt Nam, trong đó có nhiều trí thức y, dược đã tham gia xây dựng chế độ mới. Tháng 9/1945, thực dân Pháp trở lại Nam Bộ, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ đã tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, cùng toàn dân vượt qua khó khăn gian khổ, dâng hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ðó là những trí thức, những bác sĩ nổi tiếng: Bác sĩ Vũ Ðình Tụng, Giáo sư Hồ Ðắc Di, Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Ðỗ Xuân Hợp, Giáo sư Trần Hữu Tước, Giáo sư Ðặng Văn Ngữ, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bác sĩ Trần Duy Hưng, Dược sĩ Nguyễn Trọng Bính, Dược sĩ Huỳnh Quang Ðại...
Nhiều trí thức, nhà khoa học ngành y đã đi theo tiếng gọi của Tổ quốc và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bỏ lại sau lưng cuộc sống giàu sang, phú quý ở nước ngoài để trở về quê hương phục vụ cách mạng, phục vụ kháng chiến. Ngày 18/9/1946, trên chiến hạm Dumont d'Urville đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Pháp sau Hội nghị Fontainebleau, có 4 trí thức Việt kiều đã bí mật theo Người về nước. Một trong bốn nhà khoa học trẻ đó là bác sĩ Trần Hữu Tước, người sau này đã đặt nền móng cho chuyên ngành Tai - Mũi - Họng tại Việt Nam và có những đóng góp to lớn cho y học nước nhà nói chung và phát triển nền y học trong thời kỳ kháng chiến. Đó là trường hợp bác sĩ Đặng Vǎn Ngữ đang du học ở Nhật cũng đã tìm mọi cách liên hệ với tổ chức cách mạng ở Thái Lan để trở về núi rừng Việt Bắc phục vụ cách mạng, để lại nhiều dấu ấn trong nền y học Việt Nam với việc nghiên cứu thành công cách sản xuất ra thuốc Penicillin - loại kháng sinh đóng vai trò to lớn trong điều trị chống nhiễm khuẩn, người sáng lập ra Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Việt Nam…
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thường xuyên theo dõi công việc của cán bộ y tế, quan tâm đến việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, gửi thư khen ngợi, cổ vũ, động viên các đơn vị, cá nhân ngành y có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đặc biệt, trong bản Di chúc thiêng liêng mà Người để lại trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn không quên nhấn mạnh: Đảng, Chính phủ phải chăm lo, “…phát triển công tác vệ sinh, y tế”.
Kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2026) là dịp để chúng ta nhận thức sâu sắc hơn lời dạy thiết thực, ý nghĩa, những tình cảm quý báu, những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với ngành Y tế Việt Nam. Mỗi cán bộ, nhân viên ngành y tế cần phát huy nhiều hơn nữa về y đức, tận tụy, hết lòng thương yêu, chăm sóc người bệnh như Người từng nói: “Lương y phải như từ mẫu”.
Ban Biên tập
[1,3] HCMTT, NXB CTQG, H.2011, t.9, tr.343
[2] HCMTT, NXB CTQG, H.2011, t.5, tr.487
[4] HCMTT, NXB CTQG, H.2011, t.8, tr.154
[5] HCMTT, NXB CTQG, H.2011, t.15, tr.361-362