Những cống hiến to lớn của đồng chí Phạm Văn Đồng với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2026 - 16:54 Đã xem: 49

Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 01/3/1906 trong một gia đình trí thức ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII (từ năm 1946 - 1987), đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Phủ Chủ tịch (11-1968). Ảnh tư liệu

Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng Nhà nước và cách mạng Việt Nam

Ở tuổi đôi mươi, Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1926, Phạm Văn Đồng trở thành học trò của Người trong những lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Đây là một bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Phạm Văn Đồng. Ý chí cách mạng, lý tưởng cộng sản và tinh thần yêu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc tới tình cảm và lý tưởng của Phạm Văn Đồng, từ một thanh niên yêu nước Đồng chí đã trở thành một chiến sĩ cách mạng chân chính.

Vượt qua sự săn lùng của kẻ địch trong những năm tháng hoạt động bí mật; gần 7 năm thử thách khắc nghiệt trong lao tù đế quốc thực dân; những khó khăn, thiếu thốn và khốc liệt của chiến tranh không làm nản chí người chiến sĩ cộng sản Phạm Văn Đồng.

Sau khi được trả tự do, đồng chí Phạm Văn Đồng lại tiếp tục hoạt động trên mặt trận báo chí công khai thời kỳ Mặt trận Dân chủ; được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và sinh hoạt trong Chi bộ hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng kể từ thời điểm đó, Đồng chí được làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được Người chỉ dẫn và trở thành một trong những nhà lãnh đạo tài năng của Đảng trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc; với những cống hiến, dấu ấn to lớn trong xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, chuẩn bị lực lượng tiến tới Tổng khởi nghĩa. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính trong Chính phủ lâm thời, được Quốc hội khoá I bầu làm Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội. 

Trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ đến tháng 01/1949, đồng chí Phạm Văn Đồng là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ. Tại đây, Đồng chí đã có những cống hiến và sáng tạo trong việc xây dựng vùng tự do Nam-Ngãi-Bình-Phú, xây dựng và củng cố căn cứ địa kháng chiến, thực hiện khẩu hiện tự lực cánh sinh, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ.

Trên cương vị Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đồng chí hết sức quan tâm tới công tác củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước. Trong hơn 30 năm đứng đầu Chính phủ, Đồng chí luôn trăn trở, nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng tiền đề, tạo lập và phát triển một chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa phù hợp với bản sắc của dân tộc Việt Nam.

Trong lãnh đạo kinh tế, Đồng chí luôn đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc thật sự hiệu quả, có năng suất và chất lượng cao, phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, ở cương vị Bộ trưởng Bộ Tài chính đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Đồng chí đã có nhiều chủ trương sáng suốt giải quyết những vấn đề khó khăn về tài chính lúc bấy giờ. Trên cương vị Phó Thủ tướng rồi Thủ tướng Chính phủ trong hai cuộc kháng chiến, Đồng chí luôn hướng tới tổ chức bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, ít tốn kém, hoạt động hiệu quả; tích cực lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo cuộc sống của Nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến và kiến quốc. Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đồng chí luôn trăn trở trước những khó khăn của nền kinh tế, chỉ đạo mở cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là bước khởi đầu quan trọng của tư duy đổi mới đất nước.

Đồng chí cho rằng Đảng phải chăm sóc cán bộ, đảng viên “như người làm vườn, vừa vun xới cho cây, cho hoa, vừa phải nhổ cỏ trừ sâu, và nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, diệt sâu phải diệt từ trứng. Có như thế hoa mới càng đẹp, quả mới càng ngon”. Trăn trở trước tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, Đồng chí cho rằng phải “quét dọn mọi rác rưởi và dơ bẩn”“có như vậy chúng ta mới có môi trường và cơ hội thuận lợi để làm tốt các công tác khác”. Ý thức trách nhiệm và những quan điểm chỉ đạo của đồng chí Phạm Văn Đồng là rất xác đáng và có ý nghĩa thời sự to lớn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong mọi giai đoạn. 

Nhà lý luận chính trị và văn hoá xuất sắc

Từ thời trẻ, Phạm Văn Đồng đã là người thông minh, ham hiểu biết và học giỏi, đó là tiền đề để Đồng chí sớm bắt nhịp được với trí tuệ thời đại. Đọc nhiều, luôn đào sâu suy nghĩ khiến vốn tri thức của Đồng chí ngày càng mở rộng, sâu sắc.

Đồng chí Phạm Văn Đồng sớm sử dụng báo chí làm vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng. Trong lúc bị giam cầm nơi ngục tù Côn Đảo, Đồng chí đã tham gia làm báo Ý kiến chung và Người tù đỏ. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939), khi hoạt động công khai tại Hà Nội, Đồng chí đã viết một số bài in trên các báo xuất bản công khai của Đảng như Le Travail, Notre Voix... để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng. Trong quá trình tham gia xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, Đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ phụ trách báo Việt Nam độc lập và là cây bút chủ yếu của báo. Trong thời gian giữ các trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó, đồng chí Phạm Văn Đồng viết nhiều bài đăng trên báo chí của Đảng, của các đoàn thể.

Tháng 02/1966, Đồng chí dự Hội nghị các nhà văn, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nhà giáo bàn về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Phát biểu tại Hội nghị, Đồng chí khẳng định: “Tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại”. Đồng chí nhấn mạnh việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là biểu hiện của hành động cách mạng trên mặt trận văn hoá. Đồng chí yêu cầu ngành giáo dục phải phấn đấu thực hiện phương châm giáo dục toàn diện: “Mỗi thầy giáo phải trả lời cho được câu hỏi: Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Nhà trường phải coi trọng giáo dục toàn diện cho học sinh, cả đức dục, trí dục, thể dục và mỹ dục. Phải làm và làm tốt giáo dục đạo đức cách mạng. Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, dạy ra dạy, học ra học”; phải xác định rõ giáo dục là quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc. Đồng chí luôn có sự đồng cảm sâu sắc với giới trí thức, văn nghệ sĩ; coi trọng vai trò, vị trí của văn học nghệ thuật trong sự nghiệp cách mạng. Đồng chí thường xuyên động viên, cổ vũ, khen ngợi, khuyến khích văn nghệ sĩ: “Các nhà văn và các nhà hoạt động nghệ thuật hãy vững bước đi trên con đường của Đảng và của dân tộc, cống hiến hết sức mình vào sự nghiệp của nhân dân, lớn lên trong phong trào cách mạng…”.

Là một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Phạm Văn Đồng có nhiều cống hiến trong việc phát huy giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh vào chỉ đạo thực tiễn đời sống văn hoá của đất nước. Đồng chí là một trong những người sớm nghiên cứu và viết về Người. Từ tháng 8/1948, đang là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ ở Nam Trung Bộ, Đồng chí viết tác phẩm“Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc”. Sau đó hàng năm đến dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác, Đồng chí thường có những bài viết, bài nói hoặc diễn văn về Người như: Học tập quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1950), Học tập quan điểm nhân dân của Hồ Chí Minh (5/1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh (1960), Hồ Chủ tịch lãnh tụ của chúng ta (5/1961), Chủ tịch Hồ Chí Minh - tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại (1970 - Diễn văn nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày sinh của Người)… Giai đoạn 1990 - 1998, đồng chí Phạm Văn Đồng công bố một loạt tác phẩm: Hồ Chí Minh - Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp (1990); Hồ Chí Minh - Quá khứ, hiện tại và tương lai (1991); Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh (1993); Văn hoá và đổi mới (1994); Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh (1998). Những bài viết, tác phẩm của Đồng chí là một hệ thống tri thức, kinh nghiệm, nghiên cứu một cách toàn diện về con người Hồ Chí Minh; về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; về vị trí, vai trò tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.

Nhà ngoại giao tài năng, có uy tín trên thế giới

Tài năng và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng còn thể hiện rất rõ nét trong lĩnh vực ngoại giao. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội cử làm Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thăm thân thiện nước Pháp, sau đó là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam trong cuộc đàm phán với phía Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô. Năm 1954, với tư cách Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao, đồng chí Phạm Văn Đồng là Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Giơ-ne-vơ bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương. Đối thoại trực tiếp với những nhà ngoại giao kỳ cựu của Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, tên tuổi đồng chí Phạm Văn Đồng nổi lên trên chính trường ngoại giao quốc tế cũng bắt đầu từ Hội nghị quốc tế quan trọng này. Những phát biểu đanh thép, những cuộc trả lời phỏng vấn sắc sảo tại Hội nghị Giơ-ne-vơ của Đồng chí đến nay vẫn được bạn bè quốc tế nhắc đến, là niềm tự hào của ngành ngoại giao Việt Nam và dân tộc Việt Nam.

Với tài năng của mình, Đồng chí được Đảng, Nhà nước tin tưởng giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương trong những năm 1955 - 1961. Đồng chí đã nhiều lần là Trưởng đoàn đi thăm chính thức các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị cấp cao các nước Á - Phi ở Băng-đung, In-đô-nê-xia (1955), Hội nghị cấp cao nhân dân các nước Đông Dương, nhiều hội nghị cấp cao các nước Phong trào không liên kết, Hội đồng tương trợ kinh tế và nhiều hội nghị quốc tế quan trọng khác. Với những quan điểm có tính nguyên tắc, tài thuyết phục và tình cảm chân thành, trong các hoạt động ngoại giao, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận được những tình cảm thân thiết, sự kính trọng và cảm phục. Nhiều chính khách, bạn bè quốc tế nhận xét: Phạm Văn Đồng “là một trong những nhân vật xuất sắc và có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam trong thế kỷ XX, nhờ những khả năng siêu phàm về ngoại giao cũng như uy tín, ảnh hưởng to lớn ở trong nước”. Đúng như đánh giá của Đảng và Nhà nước ta: “Đồng chí là nhà ngoại giao tài năng, có uy tín trên thế giới, nhìn xa trông rộng, tinh tế và linh hoạt, kiên cường và mềm dẻo, ứng xử nhanh nhạy, sáng tạo, luôn thể hiện lập trường chính trị sáng suốt trước thời cuộc và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh”.

Tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng

Đồng chí Phạm Văn Đồng là một tấm gương về đạo đức cách mạng. Ở Đồng chí toát lên những phẩm chất cao quý của một người cộng sản trung kiên, mẫu mực, đó là đức tính: Tận trung với Đảng, với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhân dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn đấu tranh chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung…

Là người giàu tính nhân văn, với lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, Đồng chí quan niệm bất kỳ ai là người Việt Nam, không phân biệt thành phần xuất thân, dù là người ở trong nước hay đang ở nước ngoài, nếu có lòng yêu nước, muốn góp công sức, trí tuệ cho dân, cho nước, muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, muốn cho dân giàu, nước mạnh đều được trân trọng.

Đồng chí luôn coi việc chăm lo lợi ích của Nhân dân, giải quyết những khó khăn cấp bách cho dân là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Ngay khi nước nhà giành độc lập, đứng trước muôn vàn khó khăn, trong đó có nạn đói cướp đi sinh mạng của gần hai triệu đồng bào, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Tài chính, thay mặt Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng ký Nghị định giảm thuế và hoãn thuế cho nông dân (1945). Được trao trọng trách đứng đầu Chính phủ, Đồng chí thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành tìm cách khắc phục khó khăn, nâng cao đời sống của Nhân dân.

Đồng chí coi việc phải khắc phục những yếu kém trong công cuộc đổi mới là công việc văn hoá, ai không chấp nhận điều đó là “vô văn hoá”. Đồng chí là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, về sự nỗ lực, cống hiến cho Đảng, cho Nhân dân, cho đất nước.

Trong lòng bạn bè quốc tế, đồng chí Phạm Văn Đồng giành được sự kính trọng, cảm phục không chỉ bởi vị thế của một nhà lãnh đạo có uy tín lớn, một nhà ngoại giao tài năng của Đảng và Nhà nước Việt Nam, mà còn bởi Đồng chí là một chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi vì hoà bình, hữu nghị và tiến bộ giữa các dân tộc. Những lời thăm hỏi ân cần, chia sẻ sâu sắc trước những đau thương, mất mát do chiến tranh, thiên tai, địch họa là nguồn động viên, an ủi kịp thời đối với nhân dân nước bạn. Hình ảnh Đồng chí trong những lần đi công tác tại nhiều nước, đến thăm các địa phương và cơ sở sản xuất mãi in đậm trong ký ức nhân dân và bạn bè quốc tế về một người bạn lịch thiệp, cởi mở, tin cậy, ân cần, gần gũi.

Cuộc đời và sự nghiệp, công lao và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng đã để lại cho Đảng và dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; về lòng tin mãnh liệt ở lý tưởng cách mạng cao đẹp, tình thương yêu đồng chí, đồng bào; sống giản dị, chan hòa cùng với Nhân dân, vì Nhân dân.

Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng có ý nghĩa thiết thực trong không khí cả nước phấn khởi thi đua chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Thành kính tưởng nhớ và tri ân công lao, đóng góp của đồng chí Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, chúng ta nguyện ra sức thi đua học tập, lao động, công tác và chiến đấu, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý chí tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường, sớm đưa Nghị quyết Đại hội XIV đi vào cuộc sống, xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

BBT

                              

Xem tin theo ngày:   / /