Cuối năm 1944, sang đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở Đông Dương, ngày 09/3/1945, Nhật tiến hành đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Trước tình hình đó, ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Nắm sát diễn biến tình hình thế giới và phong trào cách mạng trong nước, nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định chuyển từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) - nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, có thể tiến công, phòng thủ đều thuận lợi. Xuất phát từ Pác Bó ngày 04/5/1945 đến chiều ngày 21/5/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng đoàn cán bộ của Đảng đến Tân Trào. Tại Tân Trào, cuối tháng 5/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị: “Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ trang lại là rất đúng, nên đặt tên là Quân giải phóng” (1).
Bên ngoài Hội trường, nơi diễn ra Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng tại xã Viinh Quang (nay thuộc Kim Bình), tỉnh Tuyên Quang
Ngày 04/6/1945, đồng chí Phạm Văn Đồng tham gia Hội nghị thành lập Khu giải phóng do Tổng bộ Việt Minh triệu tập tại Tân Trào, bao gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng phụ cận thuộc các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái… Tân Trào (Tuyên Quang) được lựa chọn làm Thủ đô Khu giải phóng. Hội nghị cũng thông qua những chủ trương, chính sách thực hiện trong khu giải phóng, nhằm xây dựng Khu giải phóng trở thành một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội để làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc. Thời gian này đồng chí Phạm Văn Đồng cũng thường xuyên tham gia giảng dạy tại Trường quân chính kháng Nhật mở tại Khuổi Kịch, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương (nay là xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang) để gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 08/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, chỉ trong vòng một tuần đã đánh bại đội quân Quan Đông của Nhật. Các nước Đồng minh cũng đồng loạt tấn công vào các vị trí phòng thủ của Nhật. Phát xít Nhật thất bại trên các mặt trận. Lực lượng Nhật và tay sai ở Đông Dương tê liệt, hoang mang, rệu rã. Thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền của cách mạng Việt Nam đã đến. Tại lán Nà Nưa, xã Tân Trào, lãnh tụ Hồ Chí Minh xác định: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng kiên quyết giành cho được độc lập!”(2).
Trong những ngày lịch sử trung tuần tháng 8/1945 tràn đầy khí thế cách mạng sôi nổi của quân và dân cả nước, thời cơ lịch sử đã chín muồi. Từ ngày 14 đến 15/8/945, đồng chí Phạm Văn Đồng tham dự Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào. Hội nghị chủ trương kịp thời lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền và cử ra Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Hội nghị cũng đề ra đường lối đối nội và đối ngoại của Mặt trận Việt Minh trong tình hình mới.
Sau Hội nghị toàn quốc của Đảng bế mạc, ngày 16 và 17/8/1945 đồng chí Phạm Văn Đồng tham dự Đại hội Quốc dân tại đình Tân Trào. Dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho ba miền Bắc - Trung - Nam; đại biểu các ngành, các giới, các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo và đại biểu kiều bào ở nước ngoài (Thái Lan, Lào). Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh và 10 chính sách của Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch và các ủy viên là: Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang. Thường trực của Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng, Trần Huy Liệu và Dương Đức Hiền. Đại hội quy định Quốc kỳ là lá cờ đỏ có ngôi sao vàng 5 cánh ở giữa, Quốc ca là bài “Tiến quân ca”.
Ngày 19/8/1945 khởi nghĩa giành chính quyền thành công ở Hà Nội, công việc yêu cầu càng khẩn trương hơn. Tại Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Thái cùng một số đồng chí khác đã có cuộc gặp gỡ trao đổi về việc chuẩn bị về Hà Nội. Đồng chí Phạm Văn Đồng được cử ở lại Tuyên Quang thực hiện công việc quan trọng này. Sau khi khẩn trương hoàn thành công việc, đồng chí Phạm Văn Đồng rời Tân Trào về thủ đô Hà Nội.
Ngày 25/7/1949, đồng chí Phạm Văn Đồng tuyên thệ nhậm chức Phó Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ngày 02/8/1949, theo Sắc lệnh số 86-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký về việc thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao, đồng chí được cử làm Phó Chủ tịch. Từ cuối tháng 7/1949 đến tháng 9/1950, đồng chí Phạm Văn Đồng ở và làm việc tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Tại đây đồng chí Phạm Văn Đồng và Chính phủ đã có nhiều cuộc họp quan trọng để đánh giá tình hình trong nước và thế giới, quyết đáp nhiều vấn đề quan trọng về đường lối kháng chiến kiến quốc, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Năm 1949 và đầu năm 1950 tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến lớn có lợi cho cách mạng Việt Nam. Từ ngày 21/01 đến 03/02/1950, Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng đã tổ chức để thảo luận, nghiên cứu và đề ra những chủ trương và biện pháp đưa cuộc kháng chiến lên bước phát triển mới. Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Văn Đồng đọc báo cáo Phải kiện toàn chính quyền nhân dân để tổng phản công và kiến thiết chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam. Báo cáo đã khái quát một số nội dung về vấn đề xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc, những quan điểm trong báo cáo của đồng chí Phạm Văn Đồng là rất cụ thể, chính xác, tới nay vẫn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
Năm 1950, Văn phòng Chủ tịch Phủ, Thủ tướng Phủ chuyển đến ở và làm việc tại Bản Tai, xã Kiên Đài, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang(4). Trong thời gian làm việc ở đây, đồng chí Phạm Văn Đồng đã hoàn thiện báo cáo "Mấy vấn đề cốt yếu của chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam" để trình bày tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng. Giữa tháng 01/1951, đồng chí Phạm Văn Đồng cùng các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Trung ương Đảng và Chính phủ đã về ở và làm việc tại thôn Bó Củng, xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa để chuẩn bị tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh tại Việt Bắc
Từ ngày 11 đến ngày 19/02/1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng họp tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tại Đại hội, đồng chí Phạm Văn Đồng được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương; được phân công làm Bí thư Đảng đoàn Chính phủ, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Tiểu ban Miên - Lào, thành viên Ban Tuyên huấn Trung ương.
Ngày 11/3/1951, Hội nghị liên minh tại Hội nghị liên minh ba nước Việt - Miên - Lào đã được tổ chức. Hội nghị đã nhất trí thành lập Ủy ban liên minh nhân dân Việt - Miên - Lào gồm các đồng chí và các vị: Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Minh Giám, Xuphanuvông, Nuhắc, Sơn Ngọc Minh, Tuxamút…
Từ tháng 5/1951, đồng chí Phạm Văn Đồng trở lại Thủ tướng phủ ở Thác Rẫng, thôn Lập Binh, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, sau đó chuyển đến ở thôn Thia, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương đến cuối năm 1953. Đầu năm 1954, đồng chí chuyển đến ở, làm việc tại thôn Làng Nhà, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn. Trong thời gian từ cuối năm 1951 đến năm 1954 tại Tuyên Quang đã diễn ra nhiều hoạt động mang dấu ấn lãnh đạo quan trọng của đồng chí Phạm Văn Đồng, cụ thể: Đồng chí đã có một số bài nói và viết, như: Mấy vấn đề cấp bách về kinh tế - tài chính (năm 1951), Mấy công tác lớn năm 1951, Bàn về kế hoạch sản xuất và tiết kiệm (năm 1952), Báo cáo tại cuộc họp Hội đồng Chính phủ kiểm điểm công tác 6 tháng cuối năm 1952, Tham luận tại Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn quốc (tháng 02/1953)...
Đầu tháng 3/1953, tại cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đọc báo cáo Mục đích, phương châm, kế hoạch phát động quần chúng và nhiệm vụ của chính quyền trong phát động quần chúng. Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa I (tháng 12/1953), đồng chí Phạm Văn Đồng đã trình bày dự thảo Luật Cải cách ruộng đất được Quốc hội thảo luận, bổ sung và biểu quyết thông qua. Cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, đồng chí đã tham gia một số lớp tập huấn cán bộ làm công tác cải cách ruộng đất.
Để bảo đảm yêu cầu cung cấp cho chiến trường, tháng 6/1953, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung cấp Mặt trận do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng là Chủ tịch. Đồng chí đã chỉ đạo huy động tối đa sức người, sức của cho các trận đánh lớn trên các chiến trường Đông Xuân 1953 - 1954. Sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng và công tác hậu cần, tạo thuận lợi để Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu triển khai kế hoạch tác chiến trên chiến trường chính Bắc Bộ và trên chiến trường Lào và Đông Bắc Campuchia. Ngày 13/3/1954, tiếng súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu nổ. Trải qua ba đợt chiến đấu gian khổ và ác liệt, liên tục trong 55 ngày đêm, ngày 7/5/1954 quân ta giành toàn thắng, toàn bộ quân địch ở Điện Biên phủ đã bị tiêu diệt và bắt sống.
Những thắng lợi trên mặt trận quân sự làm hậu thuẫn mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh ngoại giao, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ. Từ Kim Quan, Yên Sơn, Tuyên Quang, tháng 3/1954, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam dân chủ cộng hoà đi dự Hội nghị Giơnevơ bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình trên bán đảo Đông Dương. Sau 75 ngày làm việc căng thẳng, đêm ngày 20 rạng sáng ngày 21/7/1954, Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đồng Dương. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã giành thắng lợi.
Công lao và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng với Đảng ta, dân tộc ta là rất to lớn. Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang luôn tự hào có được những tháng năm gắn bó với đồng chí Phạm Văn Đồng và có được sự quan tâm hết mực của đồng chí. Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, Thủ đô khu giải phóng, Thủ đô kháng chiến, tỉnh Anh hùng, học tập nhân cách, tấm gương cao đẹp của đồng chí Phạm Văn Đồng, một nhà lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ và Nhân dân Tuyên Quang luôn phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu quan trọng qua các thời kỳ cách mạng, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, đưa Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá, toàn diện, bền vững trong các tỉnh miền núi phía Bắc. Đó cũng chính là sự tri ân của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đối với những cống hiến, công lao to lớn của đồng chí Phạm Văn Đồng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Đức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr.212.
(2). Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 2, tr.267.