Ngày 31/8/1885 sau khi đánh chiếm Tuyên Quang, thực dân Pháp đã xác lập ách thống trị của mỉnh tại đây và thi hành chính sách vơ vét tài nguyên. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đời sống của người dân lao động Tuyên Quang bị bần cùng hoá đến cùng cực. Đặc biệt tại các hầm, mỏ, người công nhân phải lao động trong những điều kiện hết sức cực nhọc, đầy khí độc, ngày làm từ 10-12 tiếng, không có ngày nghỉ, tính mạng luôn bị đe doạ bởi các tai nạn cháy ga, sập lò... mà chỉ nhận được đồng lương chết đói. Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc và phong kiến tay sai đã trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
Di tích Chi bộ Mỏ Than tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào ngày 03/02/1930 đã tích cực chỉ đạo phong trào cách mạng trong cả nước, sau 5 năm cơ sở Đảng đã được xây dựng ở hầu khắp các thành phố, thị xã lớn. Tuy vậy, ở các vùng nông thôn, vùng núi cơ sở Đảng còn mỏng, có nơi chưa được xây dựng. Trước tình hình đó, tại Đại hội lần thứ nhất (tháng 3/1935), Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương mở rộng ảnh hưởng của Đảng, nhất là tại những nơi chưa xây dựng được cơ sở Đảng.
Tháng 6/1937, đồng chí Hoàng Văn Lịch (tức Hai Cao), được Đảng điều động từ Cao Bằng về hoạt động tại Tuyên Quang, chịu trách nhiệm về việc bắt mối, xây dựng cơ sở, tổ chức Đảng. Tại Tuyên Quang, đồng chí xin làm tại Mỏ than thị xã Tuyên Quang gây dựng cơ sở cách mạng. Để có thêm tài liệu làm cơ sở tuyên truyền, giác ngộ cách mạng, đồng chí Hai Cao đã về Hà Nội liên lạc với các nhà xuất bản, lấy một số sách báo như Thời Thế, Bạn Dân, Tin Tức, Đời Nay... cơ sở nhận và lưu chuyển tài liệu là gia đình đồng chí Trần Xuân Hồng. Sau một thời gian hoạt động tích cực, nhân dân thị xã Tuyên Quang, nhất là công nhân Mỏ than đã bước đầu được giác ngộ về quyền lợi giai cấp, quyền lợi dân tộc. Một số tổ chức quần chúng được thành lập như Hội ái hữu thợ thuyền, đặt trụ sở tại phố CôLônen Valie (thuộc khu Xuân Hoà, thị xã Tuyên Quang) để tập hợp những công nhân tích cực trong phong trào đấu tranh cách mạng.
Giữa năm 1938, đồng chí Hai Cao trở về Cao Bằng hoạt động, đồng chí Vũ Mùi được Xứ uỷ Bắc kỳ phân công phụ trách phong trào cách mạng ở Tuyên Quang. Kế thừa nền móng phong trào cách mạng đã được xây dựng, đồng chí tiếp tục tuyên truyền, vận động quần chúng lao động tiến tới những hình thức đấu tranh cao hơn, đường dây liên lạc ngày càng được mở rộng vượt ra ngoài thị xã Tuyên Quang, xây dựng được cơ sở quần chúng trung kiên ở soi Hồng Lương và soi Sính.
Khi Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ (năm 1939), thực dân Pháp tăng cường khủng bố, yêu cầu về một tổ chức lãnh đạo trực tiếp, thống nhất tại các địa phương trong cả nước nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng trở nên cấp bách. Tại Tuyên Quang, Xứ uỷ Bắc kỳ đã quyết định thành lập chi bộ cách mạng để trực tiếp chịu trách nhiệm lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh. Ngày 20/3/1940, lễ thành lập Chi bộ Mỏ than được tổ chức tại nhà cụ Cả Kiến, đồng chí Đào Duy Kỳ - Xứ uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ đã thay mặt Xứ uỷ công nhận và giao nhiệm vụ cho chi bộ. Chi bộ gồm 7 đồng chí: Vũ Mùi, Lương Quang Mai (tức Kiến con), Trần Xuân Hồng (Hồng lớn), Bùi văn Đức (Đức Kim), Lương Hải Bằng (Lương Văn Hải), Trần Hải Kế, Trần Thị Minh Châu, đồng chí Vũ Mùi được chỉ định làm Bí thư chi bộ.
Sự ra đời của Chi bộ Mỏ than là một tất yếu khách quan, là kết quả của quá trình tuyên truyền, gây dựng cơ sở bền bỉ, đầy gian khổ của cán bộ, đảng viên. Đồng thời đây cũng là kết quả của phong trào đấu tranh liên tục, mạnh mẽ của công nhân và nhân dân lao động Tuyên Quang, thể hiện sự chỉ đạo sát sao của Xứ uỷ Bắc Kỳ trên cơ sở nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng.
Ngay sau khi được thành lập, Chi bộ đã phát động quần chúng đấu tranh vào các dịp kỷ niệm, ngày lễ. Đội tự vệ mỏ được thành lập để bảo vệ và hỗ trợ các hoạt động của quần chúng, tổ chức học võ, phát triển tổ phụ nữ ở chợ Tam Cờ. Không chỉ phát triển phong trào ở thị xã mà còn chú trọng phát triển tới vùng nông thôn ven thị xã, tới Hiên, đồn điền Đmông Pa-Za. Trong những dịp kỷ niệm ngày Quốc tế lao động (1-5), ngày cách mạng tháng 10 Nga, ngày kỷ niệm khởi nghĩa Hai Bà Trưng... và những ngày hội của nhân dân thị xã, cờ đỏ búa liềm được treo ở ngã tư gần sân vận động thị xã đường gốc nhội, nhà sàng Mỏ than, truyền đơn, khẩu hiệu kêu gọi nhân dân chống đế quốc, đòi tự do, cơm áo, hoà bình, được rải và dán ở nhà máy sàng, nhà máy điện, trại lính Khố xanh, trại lính Lê Dương. Các hình thức đấu tranh được sử dụng rất phong phú, linh hoạt, sáng tạo như: gửi thư tố cáo theo đường bưu điện tới bọn lính; gói truyền đơn trong giấy kẹo để thả dần trong dòng người đi xem hội; kẹp truyền đơn trong tờ thẻ của đền, chùa; để lên nóc ô tô chở người đi xem hội, khi ô tô chạy truyền đơn rơi ra; nhét truyền đơn vào nhà những tên nghi là mật thám như Cai Lộc, Đội Năm, Sáu Võ. Do công tác binh vận làm tốt nên những giờ bọn lính đi tuần tra ta đều nắm rõ, tạo điều kiện thuận lợi cho Chi bộ treo cờ, rải truyền đơn, dán áp phích.
Những hoạt động đó đã cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng, củng cố lòng tin của họ đối với Đảng, đồng thời làm cho kẻ thù tức tối, hoang mang, lo sợ. Trước sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh, Xứ uỷ Bắc kỳ đã tăng cường cán bộ cho địa phương. Dựa trên nền tảng phát triển của Chi bộ Mỏ than cùng với số đảng viên mới bổ sung giữa năm 1941, Ban Cán sự Đảng Tuyên Quang được thànhlập gồm 3 đồng chí: Trương Đình Dần (tức Điều) được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự, Đào Văn Thại (tức Lê Đồng, tức Chính) và Đỗ Thị Đức (tức Được) là uỷ viên. Ban cán sự chịu trách nhiệm xây dựng phong trào ở Tuyên Quang, Hà Giang và một số huyện thuộc Phú Thọ.
Ngay từ khi ra đời, Ban cán sự đã chủ trương, củng cố những cơ sở đã có, xây dựng phát triển các cơ sở mới, vận động đấu tranh để rèn luyện và tập hợp quần chúng. Các đường dây liên lạc được thiết lập trong binh lính Khố xanh, Khố đỏ, tầng lớp tiểu thương, công nhân đoàn thuyền sắt, thuyền gỗ, xà lan, nông dân ấp Đồng Cả, xóm Nhà thờ (thuộc Soi Sính, xã Tân Long), xã Hùng Lợi, Phú Lâm, trạm Thảm. Tại Soi Sính đã thành lập được đội du kích luyện tập thường xuyên do Cao Văn Dương phụ trách.
Giữa năm 1941, thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (họp tại Pắc Bó, Cao Bằng vào tháng 5 năm 1941), được sự chỉ đạo của Xứ uỷ Bắc kỳ, Ban cán sự Đảng tỉnh và Chi bộ Mỏ than thành lập các tổ chức cứu quốc như: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc... với số hội viên ngày càng đông đảo. Tổ chức nông dân cứu quốc phát triển tới các xã: Phúc Ninh, Thắng Quân, Chiêu Yên (nay thuộc các xã Lực Hành, Xuân Vân, Yên Sơn), Tân Tiến, Hùng Đức. Cùng với công tác xây dựng, phát triển các tổ chức cứu quốc, Ban cán sự Đảng và Chi bộ Mỏ than tiếp tục củng cố, rèn luyện quần chúng thông qua phong trào đấu tranh. Ngày 07/11/1941, trong khu mỏ xuất hiện truyền đơn chào mừng cách mạng tháng 10. Cuối năm 1941, Chi bộ Mỏ than tổ chức hai cuộc mít tinh lớn tại ấp Đồng Cả dưới hình thức kỷ niệm người anh hùng Nguyễn Huệ phát động lòng yêu nước trong nhân dân. Ngay sau đó, đồng bào xung quanh ấp Đồng Cả biểu tình chống sưu cao, thuế nặng.
Các cuộc đấu tranh trên đã củng cố lòng tin của quần chúng đối với Đảng, tôi luyện ý chí đấu tranh của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời là những đợt tập dượt của lực lượng cách mạng ở địa phương nhằm rút kinh nghiệm và chuẩn bị mọi mặt cho những cuộc đấu tranh lớn, gay go, ác liệt hơn.
Cùng thời gian này, một bộ phận cứu quốc quân đã gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào người Dao ở chân núi Hồng thuộc các xã Tân Trào, Sơn Dương. Chỉ trong một thời gian ngắn, cơ sở Việt Minh đã phát triển mạnh ở vùng núi phía đông tỉnh Tuyên Quang bao gồm các xã Minh Thanh, Trung Sơn, Hùng Lợi...
Sang năm 1942, nhận rõ trung tâm phong trào cách mạng ở thị xã Tuyên Quang là Mỏ than, thực dân Pháp đã xiết chặt vòng kiểm soát, một số đảng viên bị địch bắt. Để bảo toàn lực lượng, tiếp tục đấu tranh với địch, một số cán bộ đảng viên đã chuyển hướng công tác về vùng nông thôn.
Các đồng chí bị địch bắt dù bị tra tấn dã man nhưng rất vững vàng, tỏ rõ khí tiết của người cách mạng. Ở trong tù các đồng chí luôn trao đổi, động viên nhau, tổ chức kỷ niệm ngày 1-5, ngày cách mạng tháng 10. Sau khi ra tù, một số đồng chí đã vào chiến khu (xã Tân Trào) bắt liên lạc, tiếp tục hoạt động, có đồng chí đã tham gia trận đánh Đèo Chắn, chặn đánh phát xít Nhật, bảo vệ an toàn Trung ương Đảng tại Tân Trào.
Như vậy, mặc dù cơ sở cách mạng ra đời muộn so với nhiều tỉnh khác, song phong trào đấu tranh ở Tuyên Quang phát triển nhanh, vững chắc bởi mâu thuẫn xã hội gay gắt, lòng căm thù thực dân - đế quốc của quần chúng nhân dân lao động đã lên tới tột đỉnh, phong trào đấu tranh của các tỉnh miền xuôi và lân cận tác động mạnh, các đảng viên được cử đến xây dựng cơ sở đã có kinh nghiệm. Chính những lý do trên đã tạo điều kiện cho phong trào cách mạng ở Tuyên Quang phát triển thuận lợi, tránh được tổn thất cho quần chúng. Khi được tập hợp dưới ngọn cờ của gia cấp vô sản, lòng yêu nước được hun đúc hàng ngàn năm của quần chúng nhân dân được khơi dậy và phát huy, sẵn sàng đứng lên đánh đuổi kẻ thù, giành độc lập tự do cho dân tộc. Lòng yêu nước ấy là cội nguồn, là cơ sở để quần chúng sẵn sàng giúp đỡ, hưởng ứng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Chi bộ Mỏ than là Chi bộ cộng sản đầu tiên lãnh đạo phong trào cách mạng ở Tuyên Quang trước cách mạng tháng 8/1945. Với những hoạt động phong phú, linh hoạt, sáng tạo Chi bộ đã phát động được một phong trào đấu tranh sâu rộng trong quần chúng. Cùng với hoạt động của tổ chức Việt Minh, sự lãnh đạo của Chi bộ Mỏ than, đã tạo nên không khí cách mạng sôi nổi ở Tuyên Quang, hướng quần chúng lao khổ theo con đường đấu tranh đòi cơm áo, độc lập, tự do. Những hoạt động trên đã khiến cho giai cấp thống trị ở Tuyên Quang hết sức lo sợ, hoang mang, đặc biệt tại một số vùng núi phía Đông của tỉnh, ảnh hưởng của giai cấp cách mạng đã tác động mạnh tới giai cấp này.
Từ "ngọn lửa nhỏ" tại ngôi nhà cụ Cả Kiến, phong trào cách mạng đã "bùng cháy thành ngọn đuốc" rực sáng, đưa Tuyên Quang đi từ thân phận nô lệ đến vị thế Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến, trung tâm căn cứ địa cách mạng của cả nước trong cách mạng Tháng Tám năm 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và hội nhập, tinh thần của Chi bộ Mỏ Than vẫn vẹn nguyên giá trị. Đó là bài học về sự gắn bó máu thịt với Nhân dân, là tinh thần sáng tạo, dám nghĩ dám làm và bản lĩnh vượt qua mọi nghịch cảnh. Kế thừa truyền thống vẻ vang đó, Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang hôm nay đang tiếp tục viết nên những trang sử mới, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với niềm tin của Đảng và sự hy sinh của các thế hệ cha anh đi trước.
Đức Nguyễn