Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu Tuyên Quang

Thứ Tư, ngày 18 tháng 3 năm 2026 - 14:48 Đã xem: 8

Tuyên Quang hiện có 25 dân tộc cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có những món ăn độc đáo và thú vị riêng. Trong đó, dân tộc Sán Dìu với nét văn hóa ẩm thực phong phú, đa dạng đã hình thành các món ăn với hương vị đặc trưng.

Vị trí ngồi ăn cơm tùy theo mùa và từng nhà, nhưng mọi người thường ngồi ăn ở dưới bếp. Nếu có khách thì chủ nhà có thể mời ngồi ở gian ngoài nhà chính, cạnh gian giữa có bàn thờ. Mâm được làm bằng gỗ, có chân chắc chắn. Trong nhà, người phụ nữ bao giờ cũng đảm nhận công việc bếp núc. Khi có lý do đặc biệt thì người chồng có thể làm thay; phụ nữ chuẩn bị đồ ăn, dọn dẹp, rửa bát đũa.

Khi ăn, bao giờ cũng chia làm hai mâm và có sự phân biệt mâm trên, mâm dưới; mâm trên có người già, nam giới; mâm dưới dành cho phụ nữ, trẻ em. Cách bài trí thức ăn, thức uống trong mâm cơm của người Sán Dìu thể hiện sự kính trên, nhường dưới. Các món ăn ngon nhất được đặt tại trung tâm và có xu hướng gần người cao tuổi nhất, các món rau được đặt xung quanh. Trong bữa ăn, người trẻ bao giờ cũng mời và chúc người lớn tuổi ăn ngon miệng, người lớn tuổi thường nhường và gắp món ăn ngon nhất cho trẻ em.

Các món ăn vào dịp lễ, tết và khi có đám phổ biến là thịt gà luộc, thịt lợn làm giò chả, nấu giềng mẻ, nấu chuối, nấu khế, canh măng khô, măng chua và các loại rau. Thịt, cá ướp thính, muối chua, thịt sấy… là những món ăn đặc sắc của người Sán Dìu.

Thịt thính: Thịt lợn chọn miếng khổ dày, đem ướp muối để 2-3 ngày, rửa sạch bằng nước nóng, để ráo, ướp với muối trộn thính gạo (gạo rang vàng xay nhỏ) rồi xếp từng lượt vào hũ hoặc trên cùng đậy bằng lá ổi. Miệng hũ được bịt kín rồi dốc ngược lên cho chảy hết nước. Thịt thính có thể để được từ 6 tháng đến 2 năm, để lâu thành thịt chua, có thể ăn sống được. Món cá thính cũng làm như thịt thính.

Thịt mỡ muối: Những khổ mỡ lợn được rạch ra từng thỏi bằng 2-3 đốt ngón tay (nhưng phần da vẫn liền với nhau), rửa sạch, để ráo nước rồi xát muối và rượu, lấy lá tranh khô gói lại rồi treo nơi khô thoáng, có thể để quanh năm.

Thịt nạc được thái thành từng khổ nhỏ, rán chín rồi ngâm trong mỡ nước cũng để được lâu mà vẫn thơm ngon.

Thịt trâu, bò… được để dành bằng cách phơi khô rồi sấy trên gác bếp, khi ăn đem ngâm nước nóng cho thịt mềm ra rồi thái mỏng nấu khế, măng chua hoặc mẻ.

Người Sán Dìu cũng làm xôi ngũ sắc trong các ngày lễ, tết. Riêng xôi đen dùng trong nghi thức tạ mộ vào tháng 3, ngày Thanh minh.

Bánh chưng gù: Là loại bánh linh thiêng trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Sán Dìu. Vào ngày Tết Nguyên đán và Tết diệt sâu bọ, người dân thường làm bánh để dâng lên tổ tiên và cũng là món quà đón con cháu về thăm gia đình, đón phước lộc, an khang. Đúng như tên gọi, bánh chưng gù mô phỏng hình dáng người phụ nữ khi lên nương, làm rẫy. Hình dáng chiếc bánh như nhắc nhớ về sự tần tảo, lam lũ, chịu, chịu khó trong lao động, sản xuất của người phụ nữ Sán Dìu.

Người Sán Dìu gói bánh chưng gù dâng lên tổ tiên dịp Tết nguyên đán

Bánh nẳng: Là loại bánh được làm kỳ công. Người dân lấy cây rừng, thường gọi là cây “giong dịu”, sau đó phơi khô đốt lấy tro. Tro sẽ hòa với nước vôi trong rồi lọc lấy nước tro để ngâm gạo nếp nương. Gạo làm bánh là gạo nếp nương hoặc nếp cái hoa vàng dẻo thơm. Gạo nếp sau khi vo sạch sẽ ngâm trong nước tro chừng 24 tiếng rồi rửa sạch với nước suối nguồn trong mát. Người Sán Dìu gói bánh bằng lá chít. Lượng gạo khi rải trên lá chít bằng khoảng 2 ngón tay. Bánh được đun trên bếp lửa khoảng 8 đến 10 tiếng thì vớt ra, để ráo. Bánh tro khi chín có màu hổ phách, với lớp vỏ mỏng, dẻo và hương vị thơm ngon. Bánh tro chấm với mật mía là ngon nhất. Vị ngọt thanh của mật mía và hương vị đặc trưng của bánh hòa quyện, khiến ai đã từng ăn không thể nào quên.

Bánh dày rắc đỗ xanh: Đồ xôi lên rồi giã nhuyễn, nặn thành chiếc bánh, sau đó rắc đỗ xanh lên trên mặt bánh rồi gói vào lá chuối. Bánh này thường làm vào dịp Tết Nguyên đán và rằm tháng 7, khi có lễ hội.

Các dịp lễ, Tết còn làm bánh trôi, bánh chay, bánh rồng, bánh trẹo… Cách làm bánh trôi tương tự như của người Kinh nhưng nhân có thêm lá gừng trộn với đỗ xanh, nặn bánh sao cho có những đường diềm chứ không tròn như bánh trôi. Ngoài ra, còn làm bánh chè lam, bánh hình các con giáp…

Bên cạnh các món ăn, thức uống của người Sán Dìu cũng rất phong phú. Đầu tiên phải kể đến rượu; gồm rượu cất (chúy chíu) và rượu nếp cái. Rượu được ủ men từ gạo tẻ, gạo nếp, ngô, sắn... Ngày thường, trong bữa cơm, ít uống rượu, nhưng khi khách hay dịp lễ tết thì không thể thiếu rượu. Các loại thức uống thường ngày được đồng bào sử dụng là cháo loãng (chốc ím). Ngoài ra, còn có nước lá vối, nước sa nhân, tu hú, nhân trần, râu ngô, cỏ mật…

Ngày nay, người Sán Dìu tại Tuyên Quang đã có sự giao thoa với ẩm thực của các dân tộc khác. Tuy nhiên, nhiều món ăn truyền thống vẫn được người Sán Dìu lưu giữ qua nhiều thế hệ. Các món ăn giản dị, đậm đà mùi vị quê nhà chứa đựng trong đó sự cần cù, chịu thương chịu khó của người dân nơi đây; là món quà quê mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, là thức quà không thể thiếu trong các dịp quan trọng của người Sán Dìu xứ Tuyên./.

BAN BIÊN TẬP

Xem tin theo ngày:   / /