THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG: CỘI NGUỒN SỨC MẠNH VÀ KHÁT VỌNG TRƯỜNG TỒN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Thứ Năm, ngày 23 tháng 4 năm 2026 - 07:12 Đã xem: 209

"Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba". Câu ca dao ấy từ bao đời nay đã không còn là lời nhắc nhở về một ngày lịch đơn thuần, mà đã trở thành nhịp đập chung của hàng triệu trái tim người Việt. Giỗ Tổ Hùng Vương - điểm hội tụ tâm linh thiêng liêng - chính là nơi lưu giữ truyền thống đoàn kết, tạo nên sức mạnh vô song của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.

Từ bao đời nay, các thế hệ người dân Việt luôn hướng tới một điểm tựa lịch sử và tâm linh đó là thời đại Hùng Vương dựng nước và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chung của cả dân tộc. Trong tâm thức của mỗi người Việt Nam đều luôn nhắc nhở nhau “Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Dù hiện nay chưa có tư liệu chính thống xác định tuyệt đối lý do chọn ngày mùng 10 tháng 3 là ngày "Quốc giỗ", nhưng trong dân gian đã lưu truyền những cách giải thích đầy ý nghĩa. Có ý kiến cho rằng tháng 3 là tháng Thìn (tháng Rồng), còn con số 10 tượng trưng cho 10 thiên can gắn liền với các đời vua Hùng; cũng có học giả cho rằng, tháng 3 là thời điểm cỏ cây nảy lộc đơm hoa rộ nhất, lúa chiêm “hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”, “mùa con ong đi lấy mật”, muôn vật giao phối, sinh sôi, giỗ tổ vào thời điểm này nhằm gửi gắm vào đó cầu mong tổ tiên phù hộ cho tươi tốt mùa màng, đông đàn vật nuôi, dân giàu, nước mạnh, mãi mãi trường tồn.

Du khách về Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt đền Hùng trong lễ hội đền Hùng (Phú Thọ). Ảnh tư liệu của TTXVN

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, dòng dõi tiên rồng bắt đầu từ Kinh Dương Vương, đến Lạc Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Lời từ biệt của Lạc Long Quân khi chia 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển để khai cơ lập nghiệp đã đặt nền móng cho ý niệm về chủ quyền và lãnh thổ. Người con trưởng nối ngôi, lập nên nhà nước Văn Lang, đóng đô tại Phong Châu, lấy hiệu là Hùng Vương. Danh xưng "Đồng bào" - cùng một bọc sinh ra - đã trở thành "mã định danh" duy nhất của người Việt, tạo nên sức mạnh đoàn kết vô song giúp dân tộc vượt qua mọi biến thiên của lịch sử.

Thời đại Hùng Vương có một ý nghĩa quan trọng trong lịch sử, bởi đây là thời đại mở đầu dựng nước, hình thành nên những giá trị về văn hóa để rồi trở thành những tiền đề cơ bản trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam. Qua các tài liệu, hiện vật khảo cổ học, đặc biệt là hoa văn trên mặt trống đồng và các truyền thuyết, chuyện cổ tích như Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Sự tích Bánh chưng - Bánh dày, sự tích Dưa hấu, sự tích Trầu cau... đã cho thấy xã hội thời Hùng Vương là một xã hội đã khá phát triển. Thời Hùng Vương về đời sống vật chất đã có nhà cửa khang trang với kiểu nhà sàn độc đáo, thích hợp với hoàn cảnh rừng rú và lầy lội của thiên nhiên. Cư dân thời này đã biết trồng lúa, thức ăn chủ yếu là lúa gạo,... Đồ dùng hàng ngày chủ yếu làm bằng tre, gỗ, đất nung và đồng thau, một số ít được dùng bằng da và đá. Trang phục thời Hùng Vương phù hợp với miền sông nước, đó là nam giới chủ yếu là đóng khố, cởi trần, nữ giới mặc váy, nhiều phụ nữ có buộc thêm miếng đệm váy có trang trí ở trước bụng và sau mông.

Rước kiệu vào đền Thượng Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt đền Hùng. Ảnh tư liệu của TTXVN

Bên cạnh đời sống vật chất, cư dân Việt cổ thời Hùng Vương có đời sống tinh thần cũng vô cùng phong phú. Qua các câu truyện truyền thuyết còn lưu truyền trong Nhân dân và một số ghi chép tuy có nhiều ý kiến trái chiều song chúng ta có thể hình dung về tục lệ cưới hỏi thời Hùng Vương, đó là chế độ hôn nhân một vợ một chồng và chế độ phụ quyền vào cuối thời Hùng Vương. Ngoài ra thời kỳ này còn có một số phong tục khác như tục ăn trầu cau với vôi được thể hiện trong chuyện “Sự tích trầu cau”. Đây chính là cơ sở đặt nền móng cho sự phát triển của phong tục cưới hỏi của người Việt khác với phong tục của các dân tộc khác. Thời kỳ Hùng Vương con người không chỉ biết chế tạo ra các đồ dùng mà con biết trang trí cho các sản phẩm của mình đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật và mỹ thuật tạo dáng. Người xưa đã biết tạo dáng đồ dùng sau đó mới trang trí mĩ thuật cho vật dụng thêm tinh xảo và đẹp mắt. Các tác phẩm được tạo dáng rất gần gũi gắn bó với thiên nhiên, một bước phát triển ở trình độ cao hơn là tái tạo lại cuộc sống hàng ngày như lao động sản xuất, vui chơi, hội hè... Mỹ thuật thời Hùng Vương đã để lại cho các thế hệ sau này những giá trị độc đáo bởi đó là một nền nghệ thuật mang tính gốc rễ, bản địa, không mang dấu vết lai tạp một nền văn hóa nào. Mặc dù nó ra đời song song cùng với các nền văn hóa cổ đại của thế giới như Hy Lạp, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc.... Bên cạnh đó nền nghệ thuật này còn phản ánh sớm về ý thức cộng đồng. Đây chính là yếu tố cốt lõi, là linh hồn quyết định sự sống còn của dân tộc. Điều này đã được thể hiện rõ nét trên trang trí của mặt trống đồng Đông Sơn. Bên cạnh những hình chim, thú, ta còn thấy nổi lên là hình ảnh con người tập hợp thành nhóm. Đó là cảnh con người cùng hát, múa, chèo thuyền, cùng phóng lao, cùng nhìn về hướng mặt trời...

Lễ hội dân gian thời Hùng Vương rất phong phú và đã dạng, là nét văn hóa tinh thần không thể thiếu của con người thời Hùng Vương. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước lễ hội đã mang một giá trị to lớn đó là biểu thị tinh thần đoàn kết cộng đồng dân tộc. Thời kỳ này đã có nhiều hình thức lễ hội đã ra đời như: Lễ hội cầu mưa, cầu mùa thể hiện qua các nghi thức rước nước, bơi chải của các làng ven sông Lô, sông Đà, sông Hồng. Hình ảnh bơi thuyền này hiện còn thấy qua các hình ảnh trang trí trên trống đồng Hùng Vương. Ngoài ra còn có các lễ hội thi tài, thi khéo như: nấu cơm thi, ném lao hoặc các lễ hội cầu thần sấm, thần mặt trời đều là các tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp. Đánh trống đồng là hình thức rõ nét nhất trong tín ngưỡng cầu mặt trời và cầu sấm. Trên mặt trống đồng có hình tròn ở giữa và có những tia xung quanh. Trong ngày hội còn có múa hát và cả hóa trang trong trang phục lông chim. Ngoài ra còn có hình thức giã cối, vừa là hình thức biểu diễn vừa là trò chơi, vừa là hình thức giao duyên nam nữ với mong ước sản sinh, thịnh vượng.

Chương trình nghệ thuật “Linh thiêng nguồn cội - Đất tổ Hùng vương”. Ảnh: Báo Phú Thọ

Trải qua hàng ngàn năm, lễ hội Đền Hùng được xác định là ngày Quốc giỗ, một nét độc đáo hiếm có trong văn hóa tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong tâm thức dân gian, các Vua Hùng vừa là vị Thủy Tổ thiêng liêng, vừa là những bậc Thánh vương gần gũi, người đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng cơ đồ đất nước. Thờ cúng Tổ tiên không chỉ là tín ngưỡng, mà là đạo lý xuyên suốt lịch sử, là nhân tố cốt lõi tạo nên sức mạnh đại đoàn kết. Đây cũng là dịp để mỗi người con đất Việt soi rọi lại mình, để tri ân công đức tổ tiên và thấy rõ trách nhiệm với tương lai. Từ bản sắc văn hóa Hùng Vương, chúng ta tiếp nối sức mạnh để lao động sáng tạo, đóng góp công sức và trí tuệ cho sự nghiệp phát triển đất nước, xứng đáng với tầm vóc của một dân tộc có mấy ngàn năm văn hiến. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc giữ gìn và phát huy các giá trị của thời đại Hùng Vương càng trở nên cấp thiết, đó chính là "sức mạnh mềm", là vũ khí văn hóa để người Việt không bị hòa tan giữa dòng chảy toàn cầu hóa.

Khép lại những trang sử vàng của thời đại dựng nước, mỗi người dân Việt Nam hôm nay đều hiểu rằng: Tổ quốc không chỉ là dải đất hình chữ S, mà còn là một khối gắn kết từ "bọc trăm trứng" thiêng liêng. Đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” sẽ mãi là điểm tựa để dân tộc Việt Nam vững vàng tiến bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Đức Nguyễn

CÁC TIN ĐÃ ĐĂNG

Tổng số: 35 | Trang: 1 trên tổng số 4 trang  
Xem tin theo ngày:   / /